Tổng quan luận án

Xác định tuổi cá thể là nhiệm vụ trọng tâm trong giám định pháp y và nhân chủng học. Ở người trưởng thành, các phương pháp truyền thống dựa trên quan sát hình thái bên ngoài mang tính chủ quan cao hoặc không thể áp dụng khi tử thi biến chất nặng. Phương pháp ước lượng tuổi xương chỉ đạt độ chính xác ở trẻ em, thanh thiếu niên và người dưới 30 tuổi; độ chính xác giảm đáng kể ở người lớn tuổi. So với xương, răng có độ bền vững cao, được bảo vệ bởi xương ổ răng, mô nha chu và mô mềm vùng mặt, ít bị biến đổi bởi môi trường phân hủy.

Các phương pháp định tuổi răng dựa trên sự phát triển (mọc răng, X-quang) bị giới hạn khi răng hoàn tất đóng chóp. Do đó, các phương pháp khảo sát mô học và sinh hóa răng trở thành giải pháp tối ưu cho người trưởng thành. Trong đó, phương pháp ước lượng tuổi dựa vào sự kết vòng của xê măng chân răng (Tooth Cementum Annulation - TCA) và phương pháp dựa vào sự triệt quang axit aspartic (Aspartic Acid Racemization - AAR) trong ngà răng được ghi nhận có độ tin cậy cao. Tuy nhiên, tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá hai phương pháp này trên người Việt.

Luận án "Ước lượng tuổi người Việt dựa vào thành phần axit aspartic ngà răng và sự tăng trưởng xê măng chân răng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Huỳnh Thiên Ân, chuyên ngành Răng Hàm Mặt (mã số: 62720601), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Đức Lánh tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021).

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá phương pháp ước lượng tuổi người Việt dựa vào thành phần axit aspartic trong ngà răng và sự tăng trưởng của xê măng chân răng.

Các mục tiêu chuyên biệt gồm:

  1. Ước lượng tuổi dựa vào thành phần axit aspartic ngà răng của răng cối nhỏ thứ nhất dựa theo công thức của Ohtani (2003), từ đó đánh giá sự phù hợp của công thức Ohtani khi ước lượng tuổi trên người Việt.
  2. Xây dựng phương trình hồi quy để ước lượng tuổi người Việt dựa vào thành phần axit aspartic trong ngà răng của răng cối nhỏ thứ nhất.
  3. Ước lượng tuổi người Việt dựa vào sự tăng trưởng của xê măng chân răng răng cối nhỏ thứ nhất.
  4. So sánh độ sai lệch giữa hai phương pháp ước lượng tuổi dựa vào thành phần axit aspartic ngà răng và dựa vào sự tăng trưởng của xê măng chân răng răng cối nhỏ thứ nhất.

Đối tượng nghiên cứu là các răng cối nhỏ thứ nhất (hàm trên và hàm dưới) thu thập từ các cá thể người Việt, dân tộc Kinh tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ tháng 03 năm 2015 đến tháng 03 năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các phương pháp ước lượng tuổi sinh học dựa vào răng qua ba nhóm chính:

  • Phương pháp dựa trên sự phát triển răng: Khảo sát mọc răng và các giai đoạn khoáng hóa trên phim X-quang theo Gustafson và Koch, Gravely, Demirjian (1973). Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Bích Lý (2011) đã xây dựng phương trình hồi quy trên 2.547 phim toàn cảnh ở người từ 6 đến 24 tuổi dựa vào 7 răng vĩnh viễn hàm dưới và răng khôn. Bên cạnh đó là các kỹ thuật đo chiều dài răng của Mornstad (1994), Santoro (2008) hay đo độ mở vùng chóp răng của Cameriere (2006).
  • Phương pháp khảo sát mô học răng: Phương pháp Gustafson (1966) dựa trên 6 tiêu chuẩn mòn răng, nha chu, ngà thứ phát, bồi đắp xê măng, tiêu chóp và độ trong suốt chân răng; phương pháp Lamendin (1988) đơn giản hóa dựa vào mô nha chu và độ trong suốt chân răng; phương pháp đo trực tiếp chiều dài răng chưa trưởng thành của Liversidge (1993); và phương pháp đếm vòng xê măng TCA.
  • Phương pháp sinh hóa: Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ Carbon-14 (phù hợp mẫu khảo cổ trên 100 năm nhưng sai lệch hàng chục năm và dễ nhiễm bẩn) và phản ứng triệt quang hóa axit amin (AAR).

Cơ chế triệt quang hóa axit amin bắt nguồn từ việc các protein sinh học ban đầu cấu tạo hoàn toàn từ L-axit amin. Theo thời gian và nhiệt độ, L-axit amin chuyển hóa thuận nghịch thành D-axit amin qua trạng thái trung gian phẳng (planar carbanion). Sự tích tụ D-axit amin trong các mô có liên quan trực tiếp đến tiến trình lão hóa và một số bệnh lý:

D-axit amin Bệnh liên quan Mô khảo sát
D-Alanine Alzheimer, bệnh lý thận Não, huyết tương
D-Aspartic Alzheimer Não, dịch não tủy
D-Serine Parkinson, tâm thần phân liệt Não

Trong các mô cứng của răng (men, ngà, xê măng), Helfman và Bada (1975, 1976) lần đầu tiên ghi nhận tương quan chặt chẽ giữa tỷ lệ D/L axit aspartic (Asp) với tuổi (r = 0,979 ở ngà răng). Các nghiên cứu tiếp theo của Ohtani và Yamamoto (1991), Ritz và cộng sự (1993), Ohtani và cộng sự (1995, 2003, 2005, 2011), Sakuma và cộng sự (2012), Hassan và cộng sự (2014), Chen và cộng sự (2016), Wochna và cộng sự (2018) đã chứng minh ngà răng có hệ số tương quan với tuổi cao nhất ($r > 0,98$) và môi trường ống ngà bảo tồn ổn định nhất. Về tốc độ triệt quang giữa các loại răng, Ohtani và cộng sự (2003) ghi nhận tốc độ giảm dần theo thứ tự: Răng 7 > Răng 6 > Răng 5 > Răng 1 > Răng 4 > Răng 2 > Răng 3, chủ yếu do chênh lệch nhiệt độ theo vị trí trong khoang miệng.

Năm Tác giả Mô răng Loại răng khảo sát Hệ số tương quan ($r$)
1976 Helfman và Bada Ngà thân răng Không rõ 0,979
1985 Ogino và cs Ngà thân răng Đủ loại Cao nhất R cối nhỏ 1 (0,998); thấp nhất R nanh (0,982)
1991 Ohtani và Yamamoto Ngà cắt dọc R cửa, R cối nhỏ 1 $> 0,99$
1993 Ritz và cs Ngà chân răng Răng khôn 0,99
1995 Ohtani và cs Ngà cắt dọc / cắt ngang Răng cửa giữa $0,995$ / $> 0,984$
2003 Ohtani và cs Ngà cắt dọc Răng các loại Cao nhất R cối lớn 1 (0,996); thấp nhất R cửa giữa (0,980)
2011 Ohtani và Yamamoto Ngà cắt dọc R cửa, R nanh, R cối nhỏ 0,984 – 0,991
2012 Sakuma và cs Ngà cắt dọc Răng nanh 0,98
2014 Hassan và cs Ngà cắt dọc R cửa, R nanh, R cối nhỏ 0,93
2016 Chen và cs Ngà cắt dọc Răng khôn 0,969
2018 Wochna và cs Ngà chân răng R cửa, R nanh, R cối nhỏ dưới 0,96 – 0,98

Đối với phương pháp TCA, lớp xê măng chân răng liên tục bồi đắp suốt đời sống cá thể và gia tăng độ dày gấp 3 lần từ 16 đến 70 tuổi. Cấu trúc vi thể gồm các dải băng sáng tối xen kẽ phản ánh sự xen kẽ giữa các lớp tăng khoáng hóa và kém khoáng hóa, cùng sự khác biệt về định hướng bó sợi collagen dưới ánh sáng phân cực. Mỗi cặp vòng sáng - tối tương ứng một năm đời sống (Lieberman 1994, Kagerer 2001). Tuổi cá thể được tính bằng số vòng xê măng cộng với tuổi mọc răng.

Nghiên cứu của Wittwer-Backofen và cộng sự (2004) trên 363 răng cho thấy sai lệch ước lượng TCA không quá 2,5 năm. Meinl và cộng sự (2008) so sánh ba phương pháp ước lượng mô học đã xác nhận TCA có độ chính xác cao hơn phương pháp Lamendin và phương pháp Bang & Ramm:

Nhóm tuổi Phương pháp Lamendin (năm) Phương pháp Bang và Ramm (năm) Phương pháp TCA (năm)
20 – 40 $7,0 \pm 3,6$ $10,5 \pm 6,8$ $2,9 \pm 4,8$
41 – 60 $15,4 \pm 11,7$ $12,3 \pm 3,3$ $6,4 \pm 6,9$
$> 60$ $26,3 \pm 7,6$ $17,9 \pm 10,5$ $14,2 \pm 12,6$
Tính chung $14,8 \pm 15,9$ $13,0 \pm 14,9$ $6,9 \pm 9,4$

Mặc dù có nhiều nghiên cứu quốc tế, nhưng việc áp dụng công thức nước ngoài cho người Việt cần được kiểm chứng do sự khác biệt về chủng tộc, môi trường nhiệt đới và đặc điểm nhân trắc. Luận án đã giải quyết khoảng trống này bằng việc thực nghiệm trực tiếp hai phương pháp AAR và TCA trên mẫu răng người Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết hóa sinh của phản ứng triệt quang axit aspartic (chuyển đổi L-Asp thành D-Asp theo phương trình động học bậc một) và cơ sở mô học về sự bồi đắp chu kỳ theo năm của xê măng chân răng không tế bào.

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích.

Mẫu nghiên cứu: Gồm các răng cối nhỏ thứ nhất thu thập tại Bộ môn Phẫu thuật Miệng, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ các bệnh nhân có chỉ định nhổ răng chỉnh hình hoặc phục hình.

Tiêu chuẩn lựa chọn:

  • Cá thể người Việt, dân tộc Kinh.
  • Có hồ sơ ghi nhận đầy đủ: giới tính, ngày tháng năm sinh, ngày nhổ răng.

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • Răng bị sâu.
  • Răng mắc bệnh nha chu ảnh hưởng đến 1/3 giữa chân răng.
  • Bệnh nhân có hội chứng loạn sản, dị tật sọ mặt, rối loạn chuyển hóa hoặc rối loạn phát triển răng.

Cỡ mẫu được tính toán dựa trên phương trình hồi quy của Ohtani (2003) trên răng cối nhỏ thứ nhất: $$Y = 782,58 X - 23,79 \quad (r = 0,989)$$

Với mức sai lầm loại 1 ($\alpha = 0,05$), sai lầm loại 2 ($\beta = 0,2$, sức mạnh thống kê 80%), hệ số tương quan $r = 0,989$, hệ số góc $A = 782,58$, mức sai lệch tối thiểu 5% ($39,129$), cỡ mẫu tối thiểu cho một nhóm là 80 răng. Do thực hiện trên 2 nhóm độc lập (nhóm AAR và nhóm TCA), tổng cỡ mẫu nghiên cứu là 160 răng cối nhỏ thứ nhất.

Hệ thống biến số nghiên cứu được xác định cụ thể:

Tên biến Phân loại Đơn vị đo lường
Biến độc lập
Giới Định tính, nhị giá Nam, Nữ
Phần hàm Định tính Hàm Trên, Hàm Dưới, Bên Phải, Bên Trái
Tuổi thật (nhóm AAR) Định lượng, liên tục Năm
Tuổi thật (nhóm TCA) Định lượng, rời rạc Năm
Nhóm tuổi Định tính, nhị giá Trên 40 tuổi, Dưới 40 tuổi
Tỷ lệ D/L Asp Định lượng, liên tục Tỷ số
Số vòng xê măng Định lượng, rời rạc Số đếm
Biến phụ thuộc
Tuổi ước lượng theo Asp Định lượng, liên tục Năm
Sai lệch giữa tuổi ước lượng theo Asp và tuổi thật Định lượng, liên tục Năm
Sai lệch tuyệt đối giữa tuổi ước lượng theo Asp và tuổi thật Định lượng, liên tục Năm
Tuổi ước lượng theo TCA Định lượng, rời rạc Năm
Sai lệch giữa tuổi ước lượng theo TCA và tuổi thật Định lượng, rời rạc Năm
Sai lệch tuyệt đối giữa tuổi ước lượng theo TCA và tuổi thật Định lượng, rời rạc Năm

Quy trình kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu:

  • Nhóm AAR: Lát cắt ngà dọc giữa thân và chân răng dày 1 mm được chuẩn bị tại Bộ môn Kỹ thuật Phục hình răng, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Mẫu ngà được xử lý hóa học và phân tích định lượng tỷ lệ D/L Asp tại Phòng Phân tích Trung tâm, Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh bằng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC Agilent 1200 (Hoa Kỳ) gồm bơm đôi hai kênh, bộ tiêm mẫu tự động, lò cột, đầu dò DAD và cột phân tích YMC Pack ODS AQ ($250 \times 3\text{ mm}$, đường kính hạt $3,\mu\text{m}$).
  • Nhóm TCA: Mẫu răng được bảo quản trong dung dịch formol trung tính, cắt lát tiêu bản tại Bộ môn Mô Phôi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Các tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 400 lần, truyền tín hiệu trực tiếp lên máy tính để đếm số vòng xê măng hoặc đo tổng độ dày lớp xê măng chia cho khoảng cách giữa hai dải băng rõ nhất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở sinh học và hóa học của các phương pháp định tuổi qua răng. Tác giả phân tích sâu về cơ chế đồng phân quang học, quá trình racemic hóa L-Asp thành D-Asp theo thời gian, các yếu tố môi trường tác động (nhiệt độ, độ ẩm, pH, tác động nhiệt khi bị đốt cháy). Chương 1 điểm lại các nghiên cứu định lượng AAR từ năm 1975 đến 2018 và sự phân bố mức độ triệt quang trên các vị trí răng. Đồng thời, chương trình bày chi tiết về cấu trúc mô học xê măng chân răng, hiện tượng kết vòng TCA qua các nghiên cứu từ thế kỷ 17 đến nay, kỹ thuật xác định mùa tử vong dựa trên đặc điểm quang học của dải xê măng ngoài cùng (băng cản quang vào mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau; băng thấu quang vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 theo Wedel 2007), và các yếu tố ảnh hưởng như bệnh nha chu hay nhiệt độ cao.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích trên 160 răng cối nhỏ thứ nhất người Việt (dân tộc Kinh). Tác giả mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại trừ, quy trình chuẩn bị mẫu mô học TCA, quy trình xử lý ngà răng và thông số vận hành hệ thống máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC Agilent 1200. Chương này cũng nêu rõ các biến số nghiên cứu, công thức toán học và phương pháp phân tích thống kê xử lý số liệu trên phần mềm chuyên dụng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả trình bày các phát hiện thực nghiệm trên hai nhóm mẫu độc lập:

  • Đặc điểm phân bố mẫu theo giới tính, nhóm tuổi (dưới 40 và trên 40 tuổi) và phần hàm (hàm trên/dưới, bên phải/trái).
  • Nhóm AAR: Đánh giá sắc ký đồ HPLC phân tách D-Asp và L-Asp trên các độ tuổi khác nhau (từ 12,3 tuổi đến 80,7 tuổi). Kết quả đánh giá công thức Ohtani (2003) trên mẫu người Việt cho thấy mức độ tương quan giữa tuổi thật và tỷ lệ D/L Asp; xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính mới chuyên biệt cho người Việt và kiểm chứng độ chính xác trên mẫu thử nghiệm độc lập. Phân tích sai lệch và sai lệch tuyệt đối theo nhóm tuổi, giới tính và vị trí cung hàm.
  • Nhóm TCA: Xác định tương quan tuyến tính giữa số vòng xê măng đếm được dưới kính hiển vi độ phóng đại 400 lần với tuổi thật của cá thể. Đánh giá sai lệch ước lượng tuổi theo giới tính, phần hàm và các nhóm tuổi (dưới 40 tuổi và trên 40 tuổi).
  • So sánh sai lệch tuyệt đối giữa hai phương pháp AAR và TCA trên răng cối nhỏ thứ nhất.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả thảo luận về tính đại diện của mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan giữa tỷ lệ D/L Asp với tuổi và so sánh với các công bố quốc tế (Helfman & Bada, Ohtani, Ritz, Fu, Wochna). Bàn luận về tính phù hợp và sai số khi áp dụng công thức nước ngoài so với phương trình hồi quy xây dựng riêng cho người Việt. Chương này phân tích các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình đếm vòng xê măng TCA, tác động của độ tuổi cá thể lên độ chính xác của TCA (đặc biệt là sự gia tăng sai số ở nhóm trên 40 tuổi theo quan sát của Meinl, Obertova & Francken), so sánh ưu điểm và nhược điểm thực hành giữa phương pháp sinh hóa AAR và phương pháp mô học TCA trong điều kiện cơ sở vật chất tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý thuyết và ứng dụng thực tiễn:

  1. Đánh giá công thức quốc tế: Kiểm chứng thực nghiệm công thức ước lượng tuổi của Ohtani (2003) trên quần thể người Việt, chỉ ra các điểm tương đồng và độ sai lệch khi áp dụng công thức xây dựng từ quần thể khác.
  2. Xây dựng phương trình hồi quy chuyên biệt: Thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính ước lượng tuổi dựa trên tỷ lệ triệt quang axit aspartic (D/L Asp) trong ngà răng cối nhỏ thứ nhất dành riêng cho người Việt, đạt độ tương quan cao và sai số thấp.
  3. Chuẩn hóa quy trình TCA: Xác lập quy trình làm tiêu bản mô học và đếm vòng tăng trưởng xê măng chân răng trên kính hiển vi quang học số hóa, chứng minh mối tương quan có ý nghĩa giữa số vòng xê măng và tuổi cá thể người Việt.
  4. Đối chiếu thực nghiệm: Cung cấp dữ liệu so sánh trực tiếp về độ chính xác và sai lệch tuyệt đối giữa phương pháp sinh hóa (AAR) và phương pháp mô học (TCA) trên cùng một loại răng (răng cối nhỏ thứ nhất).

Về mặt ứng dụng, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phương pháp định tuổi có độ tin cậy cao phục vụ công tác giám định pháp y tử thi, nhận dạng nạn nhân thiên tai, thảm họa và hỗ trợ nghiên cứu nhân chủng học tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Nghiên cứu chỉ tiến hành trên một loại răng đơn lẻ là răng cối nhỏ thứ nhất và giới hạn ở đối tượng người Việt thuộc dân tộc Kinh.
  • Mẫu nghiên cứu loại trừ các răng bị sâu hoặc bệnh nha chu ảnh hưởng đến 1/3 giữa chân răng, do đó chưa phản ánh toàn diện các trường hợp răng bệnh lý phức tạp trong thực tế giám định.
  • Phương pháp TCA vẫn phụ thuộc một phần vào tính chủ quan và kinh nghiệm của người quan sát khi đếm vòng xê măng; phương pháp AAR đòi hỏi trang thiết bị HPLC chuyên sâu và quy trình chiết tách hóa chất nghiêm ngặt.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu phản ứng triệt quang Asp và kết vòng xê măng trên các nhóm răng khác (răng cửa, răng nanh, răng cối lớn).
  • Khảo sát trên các nhóm dân tộc khác tại Việt Nam và các mẫu răng chịu tác động môi trường đặc biệt (nhiệt độ cao, ngâm nước, chôn vùi lâu ngày).
  • Ứng dụng công nghệ xử lý ảnh kỹ thuật số tự động để giảm thiểu sai số chủ quan khi đếm vòng xê măng chân răng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Cơ quan giám định pháp y và giám định viên: Cung cấp quy trình kỹ thuật và công thức toán học định tuổi chính xác cho tử thi người trưởng thành từ mẫu mô răng.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Răng Hàm Mặt và Y pháp: Cung cấp nguồn tổng quan tài liệu phong phú, phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích và kỹ thuật phân tích hóa sinh, mô học hiện đại.
  • Nhà nhân chủng học và khảo cổ học: Tham khảo quy luật thoái hóa protein và bồi đắp mô cứng của răng trong xác định đặc điểm sinh học cá thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao răng cối nhỏ thứ nhất được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu trong luận án?
Răng cối nhỏ thứ nhất là loại răng thường có chỉ định nhổ vì mục đích điều trị chỉnh hình răng mặt hoặc phục hình, giúp thu thập được mẫu răng nguyên vẹn, lành mạnh, không sâu và có đầy đủ thông tin về ngày tháng năm sinh của cá thể.

2. Phương pháp triệt quang axit aspartic (AAR) và phương pháp kết vòng xê măng (TCA) phương pháp nào ít phụ thuộc vào chủ quan của người đánh giá hơn?
Phương pháp AAR hoàn toàn dựa trên quy trình phân tích hóa sinh và máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC, cho kết quả định lượng khách quan tỷ lệ D/L Asp nên không phụ thuộc vào cảm tính hay kỹ năng đếm của quan sát viên. Ngược lại, TCA quan sát dưới kính hiển vi vẫn mang tính chủ quan nhất định của người đọc tiêu bản.

3. Vì sao ngà răng được đánh giá là mô tối ưu nhất cho phản ứng triệt quang so với men răng và xê măng?
Ngà răng được bao bọc bên ngoài bởi men răng và xê măng, có lượng nước và môi trường ống ngà tương đối ổn định, sự khác biệt giữa các cá thể rất nhỏ, giúp phản ứng triệt quang diễn ra đồng đều và có hệ số tương quan với tuổi cao nhất ($r > 0,98$).

4. Thiết bị và cột phân tích nào được sử dụng để định lượng axit aspartic trong luận án?
Nghiên cứu sử dụng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC Agilent 1200 (Hoa Kỳ) trang bị bơm đôi hai kênh, bộ tiêm mẫu tự động, lò cột, đầu dò DAD và cột phân tích chuyên dụng YMC Pack ODS AQ kích thước $250 \times 3\text{ mm}$, đường kính hạt $3,\mu\text{m}$.

5. Sai lệch ước lượng tuổi của phương pháp TCA có xu hướng thay đổi như thế nào theo độ tuổi của đối tượng?
Các bằng chứng tổng quan (như nghiên cứu của Meinl 2008, Obertova & Francken 2009) chỉ ra rằng phương pháp TCA đạt độ chính xác cao nhất ở nhóm người dưới 40 tuổi với sai lệch nhỏ; độ sai lệch có xu hướng gia tăng rõ rệt ở các nhóm tuổi trên 40 và người lớn tuổi.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Lê Huỳnh Thiên Ân đã thực hiện thành công việc đánh giá và ứng dụng hai phương pháp sinh hóa (triệt quang axit aspartic ngà răng) và mô học (kết vòng xê măng chân răng) trong ước lượng tuổi người Việt trên răng cối nhỏ thứ nhất. Công trình đã xây dựng phương trình hồi quy định tuổi chuyên biệt bằng HPLC và chuẩn hóa quy trình đọc tiêu bản TCA, khẳng định độ tin cậy của các chỉ báo sinh học răng trong định tuổi người trưởng thành. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho ngành Răng Hàm Mặt và công tác giám định pháp y tại Việt Nam.