Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG TUỔI DỰA VÀO RĂNG * Tuổi và việc định tuổi sinh học “Tuổi” được định nghĩa là khoảng thời gian tồn tại của một cá thể từ khi sinh ra đến một thời điểm xác định nào đó tính theo số lần quay của trái đất xoay quanh mặt trời. Tuy vậy, có một số trường hợp không xác định chính xác tuổi thật do thiếu thông tin hay về ngày tháng năm sinh. Khi đó “tuổi sinh học” là một khái niệm dùng để thay thế. Đây là tuổi được đánh giá dựa theo tình trạng phát triển, tăng trưởng, hoàn thiện và lão hóa của các chỉ báo sinh học có liên quan với tuổi thật, phổ biến nhất là xương và răng, và thường được gọi tương ứng là tuổi xương hay tuổi răng [3][4].
Trong khảo cổ, pháp y và hình thái học, khái niệm tuổi sinh học hầu như luôn dùng để tượng trưng cho tuổi thật. Khái niệm tuổi sinh học còn được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học có liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển nhằm xác định thời điểm thích hợp để áp dụng điều trị hay chẩn đoán những bệnh lý có liên quan đến tăng trưởng [4]. Nhìn chung các phương pháp được dùng để ước lượng tuổi sinh học dựa vào răng được chia thành ba nhóm [4] [38]: - Phương pháp dựa trên sự phát triển răng. - Phương pháp dựa trên khảo sát mô học răng.
- Phương pháp sinh hóa. Trong đó, phương pháp ước lượng tuổi dựa vào Asp ngà răng thuộc nhóm sinh hóa và ước lượng tuổi dựa vào sự tăng trưởng của xê măng chân răng thuộc nhóm khảo sát mô học răng.1 Ước lượng tuổi dựa vào SỰ PHÁT TRIỂN RĂNG 1.1 Phương pháp dựa trên sự mọc răng sữa và răng vĩnh viễn Phương pháp này đếm số lượng răng mọc trong miệng và phân tích tuổi mọc trung bình theo từng loại răng.2 Phương pháp dựa trên phim X quang 1.1 Phương pháp quan sát sự phát triển của răng trên phim * Phân loại sự phát riển bằng phát biểu Phân loại của Gustafson và Koch [67] mô tả quá trình khoáng hóa của răng theo 4 giai đoạn cụ thể từ bắt đầu khoáng hóa đến hoàn tất chân răng. Phân loại của Gravely [53] [144] mô tả quá trình khoáng hóa của răng gồm 5 giai đoạn từ giai đoạn 1: có những điểm khoáng hóa ở thân răng nhưng chưa nối liền nhau và tổng cộng các điểm dưới 1/4 kích thước thân răng đến giai đoạn 5: hoàn tất thân răng và chân răng bắt đầu hình thành. * Phân loại sự phát riển bằng phát biểu và hình ảnh minh họa Có nhiều cách phân loại các giai đoạn khoáng hóa khác nhau, trong đó phân loại theo Demirjian (1973) được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về sự phát triển của răng trong tương quan với tuổi trên thế giới [4][20] [67][79].
Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Bích Lý (2011) [4] khảo sát sự phát triển của các răng vĩnh viễn trên mẫu nghiên cứu gồm 2.547 phim toàn cảnh của các cá thể người Việt từ 6 đến 24 tuổi (822 nam và 1725 nữ) đưa ra kết quả như sau: 6 Dựa vào bảy răng vĩnh viễn hàm dưới Phương trình hồi quy định tuổi từ điểm số trưởng thành răng, được xác định theo sự phát triển của bảy răng vĩnh viễn hàm dưới cho mẫu trẻ Việt nam như sau: Nam: y= -214, 55 + 8,366x - 0,105 x2 + 0,0004x3 Nữ: y= -335,94 + 12,825x- 0,159 x2 + 0,0006x3 trong đó y là tuổi dự đoán, x là điểm số trưởng thành tính từ sự phát triển của bảy răng vĩnh viễn hàm dưới theo tiêu chuẩn của Demirjian. Dựa vào răng khôn Phương trình hồi quy định tuổi dựa vào sự phát triển của răng khôn khi cả 4 răng cùng hiện diện là: Nam: 8,48 + 0,124(R18) + 0,189 (R28) + 0,318(R38) + 0,686(R48) Nữ: 7,94 + 0,138(R18) + 0,197 (R28) + 0,515(R38) + 0,658(R48) Việc định tuổi dựa vào sự phát triển của răng khôn ít chính xác hơn so với bảy răng vĩnh viễn do sự biến thiên cao trong phát triển của răng này. * Phân loại sự phát triển dựa trên chiều dài tương đối của chân răng Chiều dài chân răng được đánh giá dựa vào cảm nhận chủ quan của người quan sát và điểm số sẽ được ghi nhận theo một thang đo lường liên tục biểu thị bằng những phân số tương ứng với chiều dài chân răng mới được hình thành so với chiều dài chân răng đầy đủ như: 1/4, 1/3, 1/2. Tuy nhiên, khó có thể đánh giá chính xác được các điểm số do không thể dự đoán trước tổng chiều dài chân răng sẽ được thành lập [4][67].2 Phương pháp đo đạc sự phát triển của răng trên phim * Phương pháp đo chiều dài răng trên phim Để tránh việc chủ quan khi đánh giá các giai đoạn phát triển của răng trên phim, Mornstad (1994) đã đề xuất phương pháp đo lường khách quan về sự phát triển của răng có tương quan với tuổi.
Các khoảng cách: chiều cao thân răng, chiều rộng vùng chóp, khoảng cách từ đường nối men ngà đến tận cùng vùng chóp của 16 7 răng vĩnh viễn hàm dưới được đo trên phim toàn cảnh. Sau đó dùng phương pháp bậc thang để xây dựng mẫu hồi quy tuyến tính bao gồm những khoảng cách có tương quan cao nhất với tuổi [4][53]. Phương pháp này được Santoro (2008) thực hiện nghiên cứu trên phim toàn cảnh hình ảnh phát triển của chân răng khôn. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh rằng các kỹ thuật được sử dụng để xác định độ tuổi của cá thể theo phương pháp này chỉ có thể cung cấp chỉ những giá trị về tuổi sinh học, chưa chắc chắn liên quan đến tuổi thật [4][82].
* Phương pháp đo độ mở của vùng chóp răng trên phim Cameriere (2006) [12]giới thiệu phương pháp ước lượng tuổi răng ở trẻ em dựa trên tương quan giữa tuổi và số đo độ mở vùng chóp răng. Tác giả xây dựng mẫu hồi quy tuyến tính đa biến tương quan bậc nhất bằng cách chọn những biến số tham gia có ý nghĩa vào việc dự đoán tuổi theo phương pháp chọn lựa bậc thang. Việc đo lường trên phim còn được các tác giả khác thực hiện đối với kích thước buồng tủy để xác định mối tương quan giữa việc giảm kích thước buồng tuỷ và tuổi sinh học của cá thể; tuy nhiên các kết quả vẫn chưa thống nhất về giá trị sử dụng các yếu tố này trong việc định tuổi [4].2 Ước lượng tuổi dựa vào KHẢO SÁT MÔ HỌC RĂNG 1.1 Phương pháp quan sát các thay đổi về hình thái mô học Gustafon (1966) đưa ra phương pháp ước lượng tuổi ở người trưởng thành dựa trên 6 tiêu chuẩn: độ mòn, bệnh nha chu, sự thành lập ngà thứ phát, bồi đắp xê măng, tiêu chóp răng, và độ trong của chân răng. Các yếu tố này được đánh giá trên răng nguyên vẹn hay sau khi đã mài, quan sát dưới kính hiển vi hay kính lúp.
Tổng giá trị các yếu tố trên được tính chung thành giá trị X tương ứng với một vị trí toạ độ trên biểu đồ của Gustafon, cho phép đọc tuổi tương ứng trên trục tung [4]. Lamendin (1988) đề xuất phương pháp “Gustafon đơn giản”, trong đó chỉ chú ý hai tiêu chuẩn là mô nha chu và độ trong của chân răng quan sát trên răng nguyên vẹn. Phương pháp Lamendin cho ước lượng tuổi chính xác nhất là trong khoảng 40- 79 tuổi, hiệu quả tối đa của phương pháp nằm trong khoảng từ 50-69. Ngoài ra, kết quả sẽ tốt hơn cho mọi độ tuổi nếu chỉ khảo sát trên răng cửa giữa hàm trên [4].2 Phương pháp đo đạc trực tiếp trên răng Năm 1993, Liversidge đưa ra phương pháp định lượng khách quan để ước lượng tuổi những di cốt chưa trưởng thành dựa trên sự phát triển chiều dài răng.
Kích thước này được đo trực tiếp bằng thước trượt chính xác đến 0,1 mm theo trục dài răng từ múi giữa của răng cửa, đỉnh múi răng nanh, múi ngoài gần của răng cối trên và múi trong gần của răng cối dưới đến bờ phát triển của thân hay chân răng. Sau đó, dùng phân tích hồi quy để dự đoán tuổi từ chiều dài của những răng đang phát triển có chân răng chưa hoàn tất [4] [48].3 Phương pháp dựa vào sự kết vòng lớp xê măng chân răng (Xem phần 1.3 Ước lượng tuổi dựa vào PHƯƠNG PHÁP SINH HÓA 1.1 Phương pháp dựa vào phản ứng triệt quang (Xem phần 1.2 Phương pháp dựa vào phân tích cacbon phóng xạ Chu kỳ phóng xạ cacbon, có thể cung cấp thông tin hữu ích để làm sáng tỏ ngày chết của các di tích khảo cổ của nhân loại. Phương pháp này thích hợp trong khảo cổ học, áp dụng đối với những hiện vật và di tích có tuổi từ khoảng 100. Đối với những hiện vật có tuổi cách đây vài trăm năm phương pháp này không thực sự hữu ích vì sai lệch tới đơn vị hàng chục năm.
Mẫu phân tích rất dễ bị nhiễm bẩn (nhiễm cácbon hiện đại) dẫn đến sai lệch kết quả. Những yếu tố thường gặp như nước ngầm, rễ cây, nhiễm dầu, mỡ… bao bì đựng mẫu không đúng quy cách, sơ suất khi lấy mẫu…và một số sai sót khác ngay trong phòng thí nghiệm cũng không hiếm gặp [4]. Mặc dù có một số nghiên cứu gần đây cho rằng phương pháp này sẽ ngày càng khả thi trong pháp y nhưng có lẽ chỉ có thể áp dụng rộng rãi trong tương lai gần [38][88] 1.2 SỰ TRIỆT QUANG AXIT AMIN 1.1 Đồng phân quang học Ánh sáng tự nhiên gồm nhiều sóng điện từ, có vectơ điện trường hướng ra xung quanh theo mọi hướng trong không gian, thẳng góc với phương truyền sóng. Ánh sáng phân cực là ánh sáng mà vectơ điện trường đều hướng theo một phương dao động xác định và vuông góc với phương truyền sóng.
Mặt phẳng ánh sáng phân cực (mặt phẳng phân cực) là mặt phẳng vuông góc với phương dao động của ánh sáng phân cực (Hình 1-1). 10 Mặt phẳng phân cực Phương truyền sóng (a) (b) Hình 1-1 a- Ánh sáng tự nhiên, b- Ánh sáng phân cực Một số chất hữu cơ có khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực khi cho ánh sáng phân cực đi qua. Khả năng đó gọi là tính quang hoạt và những chất có tính đó gọi là chất quang hoạt. Chất làm quay mặt phẳng phân cực theo chiều kim đồng hồ được gọi là chất quay phải, chất làm quay mặt phẳng phân cực ngược chiều kim đồng hồ được gọi là chất quay trái [5].
Đồng phân quang học là những hợp chất có công thức cấu tạo phẳng giống nhau nhưng khác nhau về cấu trúc không gian, những đồng phân này chỉ khác nhau về hoạt động quang hoạt, nghĩa là khả năng quay mặt phẳng phân cực khác nhau [5].