Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp khám nghiệm hiện trường trong khoa học điều tra tội phạm" được thực hiện bởi sinh viên Lê Thủy Trúc (Mã số sinh viên: 451855), chuyên ngành Khoa học điều tra tội phạm, Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Phượng (năm 2023).

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng về số lượng và xuất hiện nhiều loại tội phạm mới. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người phạm tội có xu hướng sử dụng các công cụ, phương tiện và thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp hơn, gây khó khăn cho công tác điều tra. Khám nghiệm hiện trường được xác định là hoạt động mở đầu có tính quyết định đến việc phát hiện, thu thập các dấu vết vật chất, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này trong thực tiễn vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, bất cập cả về nhận thức, quy định pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ.
  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động khám nghiệm hiện trường theo khoa học điều tra tội phạm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
    2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp khám nghiệm hiện trường trong thực tiễn điều tra các vụ việc mang tính hình sự tại Việt Nam.
    3. Chỉ rõ những vướng mắc, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả công tác khám nghiệm hiện trường trong thực tế.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khám nghiệm hiện trường với tư cách là một biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng biện pháp này trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
    • Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương pháp khám nghiệm hiện trường và các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
    • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát số liệu và thực tiễn áp dụng công tác khám nghiệm hiện trường tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:
    • Văn bản quy phạm pháp luật: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 4, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 178, Điều 201); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (khoản 2 Điều 150); Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Thông tư số 61/2021/TT-BCA ngày 26/7/2021 của Bộ Công an quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác khám nghiệm hiện trường của lực lượng Công an nhân dân (thay thế Quyết định số 57/2001/QĐ-BCA(C11)).
    • Hệ thống giáo trình, tài liệu chuyên khảo: Giáo trình Khoa học điều tra hình sự (Trường Đại học Luật Hà Nội); Giáo trình Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường (Học viện Cảnh sát nhân dân, 2004); Sách Khoa học hình sự Việt Nam (Tập 3, NXB Công an nhân dân, 2012); Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013); Giáo trình Bảo vệ hiện trường (Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, 2019); Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Bách khoa Công an nhân dân.
  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp lý luận, so sánh pháp luật và thống kê số liệu thực tiễn.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết 10 năm (2006 - 2016) công tác khám nghiệm hiện trường các vụ việc có người chết của Tổng cục Cảnh sát/Viện Khoa học hình sự; Báo cáo của Chính phủ về thực hiện chính sách, pháp luật phòng cháy chữa cháy giai đoạn 10/2022 - 09/2023; Số liệu thống kê tai nạn giao thông giai đoạn 2019 - 2023 của Tổng cục Thống kê và Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia; Thống kê của Viện kiểm sát nhân dân và các vụ án hình sự thực tế được xét xử, công bố trên các phương tiện thông tin chính thống.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận của khoa học điều tra tội phạm và khoa học luật tố tụng hình sự về khám nghiệm hiện trường:

  1. Khái niệm và đặc điểm của hiện trường và khám nghiệm hiện trường:

    • Hiện trường: Là địa điểm phát sinh, phát hiện các vụ phạm tội hoặc các vụ việc mang tính hình sự. Hiện trường gồm hai loại: nơi xảy ra vụ việc (nơi chuẩn bị, nơi thực hiện, nơi che giấu hành vi phạm tội) và nơi phát hiện vụ việc (nơi phát hiện dấu vết, công cụ, phương tiện phạm tội, hoặc nơi bắt giữ đối tượng đang vận chuyển).
    • Phân loại hiện trường: Căn cứ theo địa điểm (trong nhà, ngoài trời, kết hợp, trên phương tiện giao thông); căn cứ theo nội dung/tính chất vụ việc (có người chết, trộm, súng đạn, cháy nổ, sự cố kỹ thuật, tai nạn giao thông); căn cứ theo diễn biến hành vi (nơi chuẩn bị, thực hiện, che giấu); căn cứ theo tình trạng (nguyên vẹn hoặc bị xáo trộn).
    • Khái niệm khám nghiệm hiện trường: Dưới góc độ tố tụng hình sự, đây là hoạt động điều tra do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tại hiện trường nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính chất hình sự đã xảy ra.
    • Ba đặc điểm pháp lý - nghiệp vụ cốt lõi: (1) Là hoạt động điều tra theo luật định nên phải tuân thủ nghiêm ngặt thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 201); (2) Là biện pháp tích hợp nhiều lực lượng (Điều tra viên, Cán bộ kỹ thuật hình sự, Kiểm sát viên, Giám định viên pháp y, Cảnh sát PCCC...), phương pháp và phương tiện kỹ thuật chuyên dụng; (3) Thuộc nhóm hoạt động điều tra ban đầu khẩn thiết, phải tiến hành kịp thời, nhanh chóng ngay sau khi tiếp nhận tin báo, kể cả khi chưa có quyết định khởi tố vụ án.
  2. Vai trò của biện pháp khám nghiệm hiện trường:

    • Khai thác thông tin vật chất để xác định sự việc có dấu hiệu hình sự có xảy ra trên thực tế hay không, xác định bản chất sự việc (vụ án mạng, tai nạn hay tự sát).
    • Cung cấp căn cứ để nhanh chóng truy nguyên, xác định người thực hiện hành vi phạm tội thông qua hệ thống dấu vết đường vân, dấu vết sinh học (máu, ADN) và dấu vết nóng.
    • Làm rõ diễn biến, cơ chế hình thành dấu vết, công cụ, phương tiện, phương thức thủ đoạn gây án, thời gian, địa điểm, số lượng đối tượng tham gia.
    • Tạo lập các nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh cao: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, mẫu vật chứng thu giữ.
  3. Hệ thống các phương pháp khám nghiệm hiện trường:

    • Khám nghiệm theo khu vực (chia ô): Phù hợp với hiện trường rộng, cấu trúc phức tạp (công viên, cánh đồng, nhà cao tầng). Ưu điểm là có hệ thống, tỉ mỉ, tránh bỏ sót; nhược điểm là tốn thời gian lập sơ đồ và khó áp dụng ở nơi đông người qua lại.
    • Khám nghiệm dựa vào phương thức gây án: Dựa trên phân tích diễn biến đột nhập, di chuyển và rút lui của thủ phạm. Ưu điểm là tập trung phát hiện dấu vết ẩn và vi vết; nhược điểm dễ bị chi phối bởi định kiến chủ quan của Điều tra viên.
    • Khám nghiệm theo hình xoáy ốc: Gồm từ ngoài vào trung tâm (khi chưa rõ điểm trọng tâm) hoặc từ trung tâm ra ngoài (khi đã xác định được vị trí thi thể, trung tâm nổ). Ưu điểm là tập trung cao độ vào khu vực trọng điểm; nhược điểm dễ mất phương hướng ở hiện trường quá rộng, không có mốc chuẩn.
    • Khám nghiệm theo đường song song: Áp dụng cho hiện trường rộng lớn, bằng phẳng, không có ranh giới tự nhiên (tai nạn giao thông, cháy nổ, tìm kiếm nạn nhân mất tích). Ưu điểm là bao quát đồng thời, tiết kiệm thời gian; nhược điểm đòi hỏi lực lượng đông và có kinh nghiệm phối hợp.
    • Khám nghiệm theo hình cuốn chiếu: Áp dụng cho hiện trường trong nhà thoáng đãng (nhà kho, hội trường) hoặc ngoài trời có chiều ngang hẹp (bãi đỗ xe, dải phân cách). Ưu điểm là dễ thực hiện, tiết kiệm nhân lực; nhược điểm dễ bỏ sót nếu xác định độ rộng mỗi làn quét quá lớn.

CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN CỦA BIỆN PHÁP KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chương 2 phân tích thực trạng công tác khám nghiệm hiện trường từ số liệu thực tế, chỉ ra hạn chế, nguyên nhân và đề xuất phương hướng hoàn thiện:

  1. Thực tiễn công tác khám nghiệm hiện trường:

    • Hiện trường vụ án giết người: Theo số liệu tổng kết 10 năm (2006 - 2016) của Viện Khoa học hình sự, lực lượng Kỹ thuật hình sự trực tiếp khám nghiệm trung bình 20 nghìn hiện trường có người chết mỗi năm (các vụ án điển hình: tiệm vàng Bắc Giang năm 2011, Bình Phước năm 2015, Bắc Ninh năm 2016). Giai đoạn từ 15/10/2022 đến 2023, cả nước xảy ra 2.304 vụ giết người (chiếm 2,66% cơ cấu tội phạm hình sự), làm chết 1.542 người; riêng năm 2022 xảy ra 1.297 vụ, làm chết 816 người.
    • Hiện trường hỏa hoạn: Từ 10/2022 đến 09/2023, cả nước ghi nhận hơn 1.900 vụ cháy làm 144 người chết, thiệt hại 315 tỷ đồng (nguyên nhân do sự cố điện chiếm 63%, nguồn lửa/nguồn nhiệt chiếm 17%). Tác giả phân tích vụ cháy chung cư mini tại ngõ 29/70 Khương Hạ, quận Thanh Xuân, Hà Nội đêm 12/9/2023 (56 người tử vong, 37 người bị thương); qua khám nghiệm hiện trường, việc xác định dấu vết nóng chảy chi tiết hợp kim nhôm ở giảm xóc có hướng nhiệt từ trên xuống đã giúp khẳng định điểm xuất phát cháy là sự cố chập điện bình ắc quy xe tay ga tại tầng 1.
    • Hiện trường tai nạn giao thông: 10 tháng đầu năm 2023 xảy ra 9.829 vụ tai nạn giao thông làm 5.496 người chết, 4.025 người bị thương. Tỷ lệ khám nghiệm hiện trường đạt khoảng 50% tổng số vụ (chủ yếu là vụ việc có người chết).
    • Đánh giá mặt tích cực: Công tác khám nghiệm phần lớn tuân thủ đúng trình tự tố tụng; Điều tra viên và Kiểm sát viên có sự phối hợp kịp thời; đa số các vụ việc không phát sinh khiếu nại, tố cáo về hoạt động khám nghiệm.
  2. Hạn chế và nguyên nhân:

    • Hạn chế:
      • Nhận thức về vai trò dấu vết chưa đầy đủ, quá phụ thuộc vào lời khai của đối tượng, dẫn đến việc bắt giam oan người vô tội (dẫn chứng vụ Lê Thành Nam giết người, cướp tài sản năm 2012 tại Phú Quốc, Kiên Giang khiến anh Hồ Hữu Hiếu bị bắt giam oan).
      • Kỹ năng thu lượm dấu vết còn yếu, bỏ sót chứng cứ quan trọng hoặc thu lượm tràn lan (dẫn chứng vụ án Lý Sĩ Thương năm 2003 tại Sóc Trăng: cán bộ khám nghiệm không mô tả địa hình bờ kinh, bỏ qua 3 đầu lọc thuốc lá tại hiện trường trong khi bị cáo không hút thuốc, dẫn đến việc Tòa án tuyên vô tội sau 4 phiên xét xử năm 2007).
      • Công tác bảo vệ hiện trường chưa nghiêm ngặt, để hiện trường bị xáo trộn (dẫn chứng vụ xô xát khi bảo vệ hiện trường tử thi dưới gầm cầu Nhật Tân ngày 23/9/2016).
      • Vướng mắc về thẩm quyền chủ trì khám nghiệm của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (dẫn chứng vụ phá 5.000m² rừng phòng hộ tại huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang: Hạt Kiểm lâm thụ lý nguồn tin nhưng Điều tra viên Công an huyện lại đứng tên chủ trì biên bản khám nghiệm).
    • Nguyên nhân: Quy định của pháp luật còn mâu thuẫn, chưa đồng bộ; lực lượng Kỹ thuật hình sự cấp huyện thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn; phương tiện khám nghiệm còn thô sơ, thiếu thốn; chế độ phụ cấp, độc hại cho cán bộ khám nghiệm và Kiểm sát viên chưa thỏa đáng.
  3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả:

    • Hoàn thiện Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Sửa đổi quy định địa điểm khám nghiệm từ "nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm" thành "nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm"; bổ sung thẩm quyền chủ trì, chỉ đạo khám nghiệm hiện trường của Cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Kiểm lâm, Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm ngư...); bắt buộc thông báo cho lực lượng kỹ thuật hình sự chuyên trách.
    • Về mặt tổ chức và đào tạo cán bộ: Tăng chỉ tiêu đào tạo chuyên ngành Kỹ thuật hình sự tại Học viện Cảnh sát nhân dân; bố trí cán bộ đúng chuyên ngành; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng định kỳ và hội nghị rút kinh nghiệm các vụ án điển hình; nâng cao kỹ năng kiểm sát khám nghiệm hiện trường cho Kiểm sát viên.
    • Về phương tiện và chế độ: Trang bị đồng bộ va ly khám nghiệm, phương tiện bảo hộ, máy móc chuyên dụng cho Công an cấp huyện; áp dụng chế độ bồi dưỡng độc hại và phụ cấp thỏa đáng cho cán bộ trực tiếp tham gia khám nghiệm hiện trường.

Kết quả và đóng góp

  • Dữ liệu thực tiễn được tổng hợp trong khóa luận:

Bảng 1: Thống kê tình hình tai nạn giao thông 10 tháng qua các năm (2019 - 2023) (Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia)

Năm Tổng số vụ Số người chết Số người bị thương
2019 14.251 6.318 10.873
2020 11.653 5.456 8.630
2021 8.933 4.571 6.200
2022 9.717 5.717 5.140
2023 9.829 5.496 6.973

Bảng 2: Tỷ lệ vụ khám nghiệm hiện trường trên tổng số vụ giải quyết (Giai đoạn 2019 - 2023) (Nguồn: Thống kê Viện kiểm sát/Cơ quan điều tra)

Chỉ tiêu Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 Tổng cộng
Cơ quan ngoài 31 25 25 30 27 138
Cơ quan ĐTHS 17 11 15 17 13 73
Tổng số vụ có thực hiện KNHT 48 36 40 47 40 211
Tổng số vụ giải quyết 58 56 47 50 50 261
  • Giải pháp và kiến nghị lập pháp cụ thể: Tác giả đã xây dựng điều văn sửa đổi chi tiết cho Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm 5 khoản, giải quyết mâu thuẫn về khái niệm "nơi xảy ra vụ việc có dấu hiệu tội phạm" và xác lập thẩm quyền khám nghiệm độc lập của Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo Điều 35 và Điều 39.
  • Đóng góp của nghiên cứu: Luận văn đã kết nối lý luận khoa học điều tra tội phạm với các vụ án thực tế có sai phạm nghiêm trọng trong khám nghiệm hiện trường dẫn đến oan sai (vụ Hồ Hữu Hiếu tại Kiên Giang, vụ Lý Sĩ Thương tại Sóc Trăng) và các vụ trọng án phức tạp (cháy chung cư mini Khương Hạ năm 2023), từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn thuyết phục cho việc kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận tập trung chủ yếu vào số liệu trong giai đoạn 2017 - 2023 và giới hạn ở một số loại hiện trường truyền thống (án mạng, hỏa hoạn, tai nạn giao thông, hủy hoại rừng). Tác giả chưa đi sâu phân tích các loại hiện trường phi truyền thống như hiện trường tội phạm công nghệ cao hoặc hiện trường trên không gian mạng.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; nghiên cứu quy trình chuẩn hóa hoạt động thu thập chứng cứ điện tử, dữ liệu kỹ thuật số tại hiện trường vụ án hình sự.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, Khoa học Điều tra tội phạm; giảng viên và nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo luật và khối trường Công an nhân dân, Kiểm sát.
  • Nội dung đáng giá để tham khảo:
    1. Hướng dẫn kỹ thuật và tiêu chí lựa chọn 5 phương pháp khám nghiệm hiện trường cụ thể (phương pháp chia ô, phương thức gây án, hình xoáy ốc, đường song song, cuốn chiếu).
    2. Phân tích nguyên nhân dẫn đến án oan, sai lầm tố tụng xuất phát từ khâu khám nghiệm hiện trường thông qua các bản án, vụ việc thực tế.
    3. Đề xuất hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đối với Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả đề xuất sửa đổi cụm từ "nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm" tại khoản 1 Điều 201 BLTTHS 2015? Vì tại thời điểm ban đầu khi cơ quan chức năng tiếp cận hiện trường để khám nghiệm, thông thường chưa có đủ tài liệu để khẳng định chắc chắn có tội phạm xảy ra hay không (nhiều vụ việc sau khi khám nghiệm mới xác định là tai nạn, tự sát, sự cố tự nhiên). Do đó, sửa thành "nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm" bảo đảm tính chính xác và phù hợp với thực tiễn trước khi có quyết định khởi tố vụ án.

2. Điểm xuất phát cháy của vụ hỏa hoạn chung cư mini tại ngõ 29/70 phố Khương Hạ (Hà Nội) được xác định thông qua dấu vết vật chất nào? Qua khám nghiệm hiện trường, lực lượng Kỹ thuật hình sự đã so sánh mức độ tác động nhiệt giữa các xe máy tại tầng 1 và phát hiện bình ắc quy của chiếc xe tay ga chạy xăng bị cháy tan chảy hoàn toàn; đồng thời chi tiết hợp kim nhôm ở giảm xóc chiếc xe này có dấu vết nóng chảy với chiều hướng nhiệt từ trên xuống dưới, từ đó khẳng định điểm xuất phát cháy là sự cố chập điện dây dẫn bình ắc quy của xe tay ga.

3. Sai phạm trong công tác khám nghiệm hiện trường ở vụ án Lý Sĩ Thương (Sóc Trăng) gồm những gì? Cán bộ khám nghiệm và Kiểm sát viên đã không mô tả tỉ mỉ thực trạng cỏ, cây và dấu vết trượt/chân tại bờ kênh nơi phát hiện tử thi; đặc biệt, biên bản ghi nhận có 03 đầu lọc thuốc lá tại hiện trường nhưng không thu giữ để giám định, trong khi bị cáo không hút thuốc. Thiếu sót này dẫn đến lời khai nhận tội mâu thuẫn với dấu vết vật chất, khiến vụ án kéo dài qua 4 phiên tòa và cuối cùng bị cáo được tuyên vô tội.

4. Khám nghiệm hiện trường theo hình cuốn chiếu có ưu điểm và nhược điểm gì? Ưu điểm của phương pháp này là dễ triển khai, tiết kiệm nhân lực (chỉ cần một Điều tra viên cho khu vực vừa và nhỏ), tiết kiệm thời gian và bao quát toàn bộ bề mặt theo trật tự tuần tự. Nhược điểm là khó thực hiện ở nơi địa hình gồ ghề, cây cối rậm rạp; nếu phân chia độ rộng mỗi làn quét quá lớn sẽ rất dễ bỏ sót các dấu vết nhỏ.

5. Vướng mắc về thẩm quyền khám nghiệm trong vụ phá rừng tại huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) là gì? Vụ việc do Hạt Kiểm lâm huyện Chiêm Hóa thụ lý kiểm tra, xác minh nguồn tin báo về tội phạm theo thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 39 BLTTHS). Khi khám nghiệm hiện trường, người chủ trì đúng luật định phải là Hạt trưởng hoặc Hạt phó Hạt Kiểm lâm, còn Điều tra viên Công an huyện tham gia với tư cách phối hợp chuyên môn; tuy nhiên biên bản khám nghiệm lại ghi nhận Điều tra viên Công an huyện đứng tên chủ trì.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thủy Trúc đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về khái niệm, phân loại, vai trò và phương pháp khám nghiệm hiện trường trong khoa học điều tra tội phạm. Thông qua việc phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và tổng hợp số liệu từ các vụ trọng án có người chết, tai nạn giao thông và hỏa hoạn giai đoạn 2017 - 2023, công trình đã chỉ rõ những sơ hở, thiếu sót kỹ thuật nghiệp vụ dẫn đến nguy cơ làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc oan sai. Các giải pháp được tác giả đề xuất, đặc biệt là dự thảo sửa đổi Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và phương án kiện toàn lực lượng kỹ thuật hình sự, có giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao cho công tác điều tra hình sự.