CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING VÀO DẠY HỌC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Mô hình dạy học B-Learning là mô hình dạy học có sự kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Mô hình B-Learning đã trở thành mô hình dạy học phổ biến các cấp học ở nhiều nước trên thế giới.
Buckley(2002) ghi nhận đây là mô hình giáo dục mới ở bậc đại học. (January/February, 2002, pp. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, các công trình nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo B-Learning ngày càng gia tăng. B-Learning hiện nay đang được áp dụng giảng dạy tại nhiều trường đại học danh giá như Harvard, Oxford và 40% các tổ chức chuyên nghiệp đào tạo trên thế giới.
Trong cuốn sách The Handbook of B-Learning Global Perspectives, Local Designs, Curtis J. Bonk và Charles R. Graham đã chỉ ra việc ứng dụng mô hình B-Learning dạy học đại học cho 12 nước trên thế giới bao gồm: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaisia, Singapore, Úc, Canada, Mỹ, Mexico, Isarel, Anh Và Nam Mỹ (Bonk, C. Ngoài ra mô hình này còn được ứng dụng tại một số tổ chức đào tạo nổi tiếng thế giới như hệ thống giáo dục và đào tạo Châu Âu (Europe’s Education and Training Systems).
Tại Hoa Kỳ có đến 80% các trường đại học ứng dụng mô hình B-Learning trong đào tạo, trong đó 93% chương trình đào tạo Tiến sĩ và 89% chương trình đào tạo Thạc sĩ (Arabasz và Baker, 2003) (Arabasz, P.B, 2021) Nghiên cứu Powell và cộng sự (2015) cho thấy sau khi vận dụng mô hình B- Learning vào dạy học, kết quả điểm số của học sinh được tăng lên. Trường đại học Mexico (Whitelook, 2004) đã nghiên cứu mô hình dạy học kết hợp để dạy học môn Tâm -6 - lý học, kết quả cho thấy tỷ lệ thi rớt môn giảm xuống 42% (Powell, A. 1-19) Theo tác giả King & Hildreth thì SV tham gia vào khóa học B-Learning sẽ giúp cho các em có kỹ năng sử dụng máy tính (King, P. Tác giả Leh (2002) (Leh, A.
31-38) cho thấy kết quả nghiên cứu khi tham gia học tập mô hình B-Learning sẽ giúp người học dần cải thiện kỹ năng sử dụng CNTT. Nhóm tác giả đã nghiên cứu về mô hình dạy học B-Learning đã đồng thuận rằng mô hình này mang tính linh hoạt về không gian và thời gian học tập, giúp cho người học có thể học ở bất kỳ nơi đâu, bất cứ lúc nào trên thiết bị thông minh và internet (King & Hildreth 2001); (Young, J. Điều này cũng chỉ ra rằng, mô hình B-Learning tạo điều kiện thuận lợi cho SV chủ động trong việc học tập của mình. Từ một quan điểm khác của nhóm SV (Young, 2002, p.A33) đã nêu lên ý kiến trong môi trường học tập kết hợp giúp người học mang lại tự do hơn là học tập hoàn toàn trực tiếp (Young, J.
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Đại học Wisconsin (2005) cho rằng “môi trường học tập B-Learning giúp SV họ trở nên tích cực tham gia học tập hơn thay vì thụ động tiếp thu kiến thức từ bài giảng của GV” (University of Wisconsin/Milwaukee, 2005). Garrison và Kanuka (2004) cũng đã khẳng định mô hình B-Learning thúc đẩy quá trình học tập của người học bên ngoài lớp học và càng trở nên phổ biến nhất là ở bậc đại học (Garrison, D. (2010) đã tìm ra việc tích hợp của học trực tiếp và lớp học trực tuyến đã hình thành nên tư duy bậc cao cho người học (Akyuz, H. Quá trình tự học trực tuyến có hướng dẫn giúp cho người học hình thành tư duy bậc thấp, học trực tiếp giáp mặt hình thành tư duy bậc cao.
Người học có khả năng phát triển năng lực thực hành, vận dụng sáng tạo trong môn học. -7 - Nghiên cứu của tác giả Osguthope &Graham (2003) đã chỉ ra có sáu lý do để chọn mô hình dạy học B-Learning: (1) đa dạng tính sư phạm, (2) thuận lợi cho sự hiểu biết, (3) thể hiện cá nhân hóa người học, (4) dễ dàng chỉnh sửa, (5) tính tương tác xã hội, (6) chi phí thấp. Các công trình nghiên cứu trong nước Mô hình dạy học B-Learning vẫn còn là một hình thức dạy học chưa được nghiên cứu nhiều. Tác giả Nguyễn Văn Hiền khái niệm “Học tập hỗn hợp” là hình thức kết hợp giữa cách học trên lớp với học tập với sự hỗ trợ của công nghệ, học qua mạng.
(Nguyễn Văn Hiền, 2008, pp. Tác giả Nguyễn Danh Nam đưa ra nhận định: “Sự kết hợp giữa E-learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo gọi là “ Blended Learning”. (Nguyễn Danh Nam, 2007) Khi nghiên cứu về mô hình dạy học kết hợp tác giả Tô Nguyên Cương cho rằng “Dạy học kết hợp – một hình thức dạy học tất yếu của một nền giáo dục dạy học hiện đại”. Tác giả đã phân tích ưu nhược điểm của hình thức dạy học trực tiếp và trực tuyến, từ đó tác giả khẳng định mô hình dạy học kết hợp là tận dụng ưu điểm của 2 hình thức dạy học trực tiếp và trực tuyến, mô hình dạy học kết hợp là xu thế dạy học trong tương lai.
Tuy nhiên, tác giả chưa định hướng cụ thể cách thức tổ chức dạy học hoạt động của mô hình dạy học này. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định việc áp dụng còn nhiều khó khăn và thách thức. Tác giả nghiên cứu có 3 mức độ kết hợp từ mức độ thấp đến mức độ cao của hình thức B- Learning, tác giả cũng chỉ ra sự phù hợp của hình thức đào tạo B-Learning đối với việc giảng dạy ở bậc đại học tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra quy trình thực hiện mô hình dạy học này.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Hiến, Đặng Ánh Hồng, -8 - Nguyễn Tuấn Kiệt (2020) nhận định B-Learning phù hợp, thuận lợi tổ chức hình thức đào tạo tín chỉ cho SV đại học (Nguyễn Văn Hiến & cộng sự, 2020). SV học tập theo nhịp độ riêng, hình thức đào tạo này giúp SV hình thành kỹ năng giao tiếp, hợp tác, tư duy phản biện, quản lý thời gian, lập kế hoạch học tập…. Tác giả đã phân tích điều kiện cần thiết để tổ chức hình thức dạy học theo hình thức B-Learning. Gần đây tác giả Trần Thị Huệ & Nguyễn Thị Kim Oanh (2020) đã nghiên cứu 6 nguyên tắc xây dựng khóa học B-Learning dạy học ở đại học.
Tác giả đề xuất các bước xây dựng khóa học B- Learning, đồng thời đề xuất điều chỉnh tiêu chí đánh giá dựa trên các tiêu chí đánh giá của Ko và Rossen (2010) (Trần Thị Huệ, Nguyễn Thị Kim Oanh, 2020). Tuy nhiên, tác giả chưa triển khai các bước thực hiện mô hình dạy học này. Ngoài ra, có đề tài “Sử dụng mô hình dạy học kết hợp (Blended Learning) trong dạy học môn Sinh lý người và động vật cho sinh viên ngành Sư phạm sinh học ở các trường đại học” của tác giả Hà Thị Hương (2020). Tác giả nghiên cứu các nguyên tắc xây dựng mô hình dạy học kết hợp, xây dựng quy trình website học trực tuyến, quy trình sử dụng mô hình dạy học kết hợp để tổ chức dạy môn sinh lý người cho SV nhằm phát triển năng lực tự học trực tuyến cho sinh viên Sư phạm ngành Sinh học (Hà Thị Hương, 2020).
Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy B-Learning phù hợp dạy học đại học ở Việt Nam. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động dạy học Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại tác giả Hoàng Anh & Vũ Kim Thanh (1966), hoạt động dạy học bao gồm hoạt động của thầy và trò. Nhà tâm lý học A.Mentriskaia viết: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động” (Hoàng Anh - Vũ Kim Thanh, 1996).
Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học Hà Thế ngữ & Đặng Vũ Hoạt (1987), “Dạy học- một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn - là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri -9 - thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển phẩm chất của nhân cách con người theo mục đích giáo dục” (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt , 1987). Theo Robbins Harvey B.Alvy – Nguyễn Trường dịch (2004), "Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho bất cứ loại hình nhà trường nào và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất, với nội dung và tính chất của nó dạy học luôn được xem là con đường hợp lý, thuận lợi nhất giúp cho học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức, có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành động, chuyển thành phẩm chất, năng lực trí tuệ của bản thân" (Robbins Harvey B. Từ khái niệm trên, tác giả tiếp cận khái niệm hoạt động dạy học ở đại học là hoạt động tương tác, phối hợp và thống nhất giữa hoạt động dạy của GV và học của SV nhằm thực hiện các mục tiêu dạy học và đạt chuẩn đầu ra (CĐR) mong đợi của đào tạo. Trong đó, GV đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, hướng dẫn SV chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực, SV là người chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội những tri thức mới, hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết cho bản thân để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Dạy học kết hợp Theo Alvarez (2005) đã định nghĩa, B-Learning là “Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể”. Tinio cho rằng “Học tích hợp (Blended Learning) để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp e-learning”. Theo Bonk và Graham (2006), B-learning là: Kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông); Kết hợp các phương pháp giảng dạy; Kết hợp học tập trực tuyến và dạy học truyền thống (Bonk, C. -10 - Theo Staker, 2011; Staker & Horn (2012) B-learning là một chương trình giáo dục mà ở đó học sinh học một phần nội dung bài học theo dạng trực tuyến và một phần bài học theo dạng truyền thống, mặt đối mặt (Staker, H.
Theo Garrison & Vaughan (2007), B-learning là một phương pháp được thiết kế để tích hợp các điểm mạnh của học tập trực tuyến và trực tiếp (Garrison, R.