Chương I: Tông quan Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương IIT: Thực trạng Marketing ở MDB - chi nhánh Long Xuyên Chương TỪ: Giải pháp Chương V: Kết luận GVHD: ThS Lưu Thị TháiTâm SVTH: Nguyên Thanh Tuan. Lớp DH9KD Ung dung Marketing vào hoạt động của MDB — Chỉ nhánh Long Xuyên Chương II. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng là một loại hình tô chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng chủ thể trong nền kinh tế nói riêng.
Hệ thong Ngan hànglà thành phần không thể thiếu được trong nên kinh tế của mỗi Quốc gia. Dé thấy rõ về vai trò của Ngân hàng chúng ta cần tìm hiểu Ngân hàng thương mại là gi? Về mặt lý luận, có rất nhiều quan điểm khác nhau về Ngân hàng thương mại được sử dụng. Những khái niệm được thừa nhận rộng rãi và thường xuyên hiện nay là: Theo sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter Rose thì Ngân hàng là tổ chức tài chính cung câp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- vả thực hiện nhiều chức năng tải chính nhất so với bat kỳ một tô chức kinh doanh nao trong nền kinh tế. _ Còn theo World Bank định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yêu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiên gửi được rút ra với một thông báo ngăn hạn (tiên gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiệt kiệm).
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những Xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng đưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Tại Việt Nam, Điều 4 mục 3 Luật các tổ chức tin dụng (luật số 47/2010/QH 12) nêu rõ: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Vay, Ngân hàng thương mai là một trung gian tài chính, một bộ phận hợp thành hệ thống tài chính của nên kinh tế thi trường, có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung cấp vốn đến nơi có nhu cầu về vốn. Trong khi thực hiện vai trò trung gian vận chuyển vốn từ người cho vay sang người vay, các Ngân hàng thương mại đã tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán. Trong đó quan trọng nhất a tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, thanh toán bang séc mà đặc biệt hon cho nên kinh tế.
Do đó, hoạt động của Ngân hàng thương mại gan bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi. Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại” Trước khi nghiên cứu các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại, ta xem xét bảng cân đôi kê toán của ngân hàng Bảng cân đối kế toán của Ngân hàng thương mại hay còn được gọi là báo cáo về trạng thái, liệt kê các tài sản và các loại nguôn vôn do ngân hàng. năm giữ hay đầu tư tại một thời điểm. Các Ngân hàng thương mại (NHTM ) về bản chất cũng là những doanh nghiệp kinh doanh nên bảng cân đôi kê toán của nó cũng phải tuân theo nguyên tặc: Tài sản = Nguồn vốn (Nợ + Vốn chủ sở hữu) GVHD: ThS Lưu Thị TháiTâm SVTH: Nguyên Thanh Tuan.
Lớp DH9KD Ung dung Marketing vào hoạt động của MDB — Chỉ nhánh Long Xuyên Dưới đây là kêt câu cơ bản của bảng cân đôi kê toán Bảng cân đôi kê toán Nguồn vốn Tài sản Huy động Ngân quỹ - Tiên gửi - Dự trữ bắt buộc - Tiền vay - Dự trữ thanh toán Vốn chủ sở hữu Tài sản sinh lợi Nguồn vốn khác - Cho vay - Chứng khoán và dau tư Các tài sản khác Nhìn vào nội dung của bảng cân đối kế toán trên cho ta thay đặc trưng trong hoạt động kinh doanh mà đối tượng chính là tiền tệ. Do đó các nghiệp vụ của NHTM về cơ bản bao gồm Nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có, nghiệp vụ trung gian. Nghiệp vụ nợ Nghiệp vụ này giữ vai trò quan trọng đối với NHTM, bởi lẽ nó là cơ sở để Ngân hàng ra đời, tồn tại và phát triển. Hoạt động này có ý nghĩa đặc biệt vì trên cơ sở nguôn vốn huy động được Ngân hàng mới có thể thực hiện được các nghiệp vụ sau này.
Rủi ro trong hoạt động của NHTM là rất cao nên khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng phải chúý tới cơ cầu hợp lý và trong biên độ cho phép. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ đem lại thu nhập, đồng thời đảm bảo được khả năng thanh toán khi có yêu cầu được một cơ cấu tài sản nợ cũng như cơ cấu tài sản hợp lý. Trước hết, nghiệp vụ tạo vốn tự có. Cũng như tat cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần có một số vốn ban đầu điều này cũng đúng với hoạt động của Ngân hàng.
tuỳ từng loại ngân hàng mà nghiệp vụ này được hình thành như thế nào: Vốn tự có có thể tạo ra từ nguồn ngân sách Nhà nước (nếu NHTM quốc doanh); từ việc bán cô phan (nếu là Ngân hàng cô phần); hoặc từ các nguồn liên doanh, liên kết với các đơn vị khác. vốn tự có chiếm một phần quan trọng trong hoạt động của NHTM. Đây là điều kiện cần và đủ để các NHTM hoạt động và là tắm đệm giúp các NHTM khi lâm vào tình trạng khó khăn. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các NHTM không ngừng tăng quy mô nguồn vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn tự có bằng cách trích lập các quỹ thích hợp như: quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự trữ bảo toàn vốn.
từ lợi nhuận "hoạt động kinh doanh của mình, uy tín của một NHTM phần lớn thể hiện qua quy mô vốn tự có. Bởi lẽ, khách hàng sẽ tín nhiệm NHTM nào có quy mô vốn lớn hơn với cách nghĩ rằng các NHTM có quy mô lớn sẽ đảm bảo độ àn toàn cao hơn. Thứ hai, nghiệp vụ huy động vốn ` PGS TS Phạm Ngọc Phong(chủ biên), Marketing trong Ngân hàng, nxb Thống Kê 1996 GVHD: ThS Lưu Thị TháiTâm SVTH: Nguyên Thanh Tuan. Lớp DH9KD Ung dung Marketing vào hoạt động của MDB — Chỉ nhánh Long Xuyên Nguồn vốn huy động của ngân hàng gồm tài khoản tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm từ các chủ thé trong nền kinh tế.
Tiền gửi giao dịch là tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có thể sử dụng với mục đích thanh toán và họ cũng có thể rút ra bất kỳ lúc nào. Đây là nguồn vôn quan trọng của các NHTM, nó không những có khối lượng lớn mà là nguồn vốn có chi phí rẻ nhất vì mục đích của các tài khoản tiền gửi này không phải là lợi tức mà là sử dụng dịch vụ thanh toán qua hệ thống ngân hàng hoặc dé giữ được tính lỏng cao nhằm mục đích riêng. Tiền gửi tiết kiệm: là tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản không sử dụng dé thanh toán, họ được hưởng thu nhập thông qua lãi suất. Nói chung, nguôn vốnnày có chi phí cao hơn khoản tiền gửi giao dịch nhưng nó sẽ là nguồn vốn quan trọng, 6n định và đảm bảo cho các NHTM chủ động trong việc sử dụng vôn.
Trong hoạt động huy động vốn ngân hàng căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại tiền gửi cũng như nhu cầu, tâm lý tiêu dung của người dân, của các tổ chức kinh tế. dé đưa ra các hình thức huy động khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Nghiệp vụ huy động được xác định bởi các thể ché, quy định về thời gian, về lãi suất, hình thức huy động khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Nghiệp vụ huy động được xác định bởi các thê chế quy định về thời gian, về lãi suất, hình thức chi trả và hình thức tài khoản.
Thông thường, các NHTM luôn tìm cách cải tiến các hình thức huy động đặc biệt là các hình thức gắn với lợi ích của người gửi tiền để tạo niềm tin đối với khách hàng. Thứ ba, hoạt động vay vốn: trong trường hợp nguồn tiền gửi từ khách hàng không đủ, các ngân hàng sẽ phải tiến hành đi vay, NHTM đi vay dé dap ứng nhu cau kinh doanh. Đây là nguồn vốn có chi phí đắt nhất trong các nguồn huy động của NHTM nhưng lại không thể thiếu được trong qúa trình kinh doanh. Hoạt động này giúp cho các NHTM chủ động trong qua trình kinh doanh và trong việc đối phó với những khó khăn phát sinh.
NHTM có thé đi vay từ NHNN hoặc từ cacT6 chức Tin dụng hay trên thị trường vốn ( như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu.), vay trên thị trường liên ngân hàng dé đáp ứng nhu cau thanh toán, nhu cầu tin dụng của khách hang. Ngày nay, vốn vay mượn đang trở thành bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM. Nsoài ra, các NHTM có thé nhận được vốn uỷ thác từ chính phủ, từ các tổ chức đầu tư quôc tế, các tổ chức nhân đạo. để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.
Nghiệp vụ có hay còn gọi là hoạt động sử dụng vốn. Hoạt động này mang phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Kho thực hiện hoạt động này, các ngân hàng phải đảm bao một cơ cấu tài sản hợp lý, nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng của mình. Đề thực hiện được mục tiêu này, các NHTM cân phải có chính sách đầu tư, tín dụng thích hợp, kết hợp với quản lý tài sản và quản lý nguồn vốn, tuân thủ theo các quy định của pháp luật và sự hướng dẫn của NHNN, hoạt động này bao gồm: Trước hết, hoạt động ngân quỹ là hoạt động để đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên cho khách hàng của NHTM.
Trên bảng cân đối kế toán tài sản, kết quả của hoạt động này được thể hiện ở khoản mục dự trữ, có thé thay hầu hết các tài sản dự trữ đều không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp, nhưng bù lại nó có tính lỏng rất cao, điều đó rất cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, là mối quan hệ với chủ thé quản lý: NHNN do thực hiện hoạt động ngân quỹ phải đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự GVHD: ThS Lưu Thị Thai Tâm SVTH: Nguyễn Thanh Tuấn.