mở đầu. Những sản phẩm mới được đưa vào thị trường, và nó thường có tính độc quyén, sự khác biệt cao. Đây là giai đoạn các sản phẩm phải thâm nhập vào thị trường, doanh thu từ sản phẩm thường tăng trưởng rất chậm trong giai đoạn này. Giai đoạn hai, tăng trường.
Sản phẩm đã được khách hàng biết đến, tin tưởng và sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường. Đây là giai đoạn doanh thu từ sản phẩm trong giai đoạn này tăng trưởng nhanh và đem lại nhiều lợi nhuận. Đây là gia đoạn hấp dẫn nhất của CHUYÊN ĐÈ THỰC TẬP TÓT NGHIỆP. SVTH: Nguyễn Xuân Thoả.
một sản phẩm và vì thế các ngân hàng TMCP cé gắng kéo dài giai đoạn này. Giai đoạn ba, bão hòa. Sau khi tăng trưởng mạnh mẽ, doanh số từ sản phâm tăng trưởng chậm lại và có thê cũng sẽ giảm đi nhưng không nhiều, tuy nhiên giai đoạn này doanh số của sản phẩm vẫn ở mức cao. Nhưng dé đạt được doanh thu thì chi phí bỏ ra cao và lợi nhuận sẽ giảm ổi.
Giai đoạn bốn, suy thoái. Đây là giai đoạn cuối cùng của sản phẩm, doanh số của sản phẩm giảm sút nhanh chóng, thường các ngân hàng TMCP đạt hiệu quả rất thấp trong giai đoạn này, và ngân hàng TMCP nên tính đến các sản phâm khác dé thay thé hay bổ sung cho sản phẩmở giai đoạn suy thoái nay. Đó là chu kỳ thường thấy của các sản phẩm của ngân hàng TMCP, tuy nhiên không phải sản phẩm nao cũng trai qua đầy đủ các giai đoạn trên. Cũng có những sản phẩm phát triển mà khi nó đã bão hòa thì ngân hàng TMCP sẽ có những cải tiến để phát triển sản phẩm va đưa sản phẩm vào chu kỳ mới mà không qua giai đoạn suy thoái.
Và rất nhiều sản phẩm của ngân hàng TMCP có chu kỳ tăng trưởng 6n định tức là khi nó đạt đến mức bão hòa thì sẽ giữ ổn định trong thời gian rất dai. Tóm lại, sản phẩm của các ngân hàng TMCP là tong hòa của nhiều yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Mỗi sản phẩm có chu kỳ sống của nó, các ngân hàng TMCP cần phải thường xuyên cải tiến, nâng cao chất lượng, đưa ra các sản phẩm mới dé thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Cần chúý phát triển cả chiều sâu và chiều rộng của sản phẩm, có như vậy mới có thể tồn tại và phát triển.
Giá cả là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết mà khách hàng phải đưa cho người bán hay người cung ứng dịch vụ đê có được một sản phâm nào đó, với chât lượng nhât định, tại một địa điêm và thời điêm nhât định. Khách hàng luôn muốn mua hàng hóa, dịch vụ với giá thấp hơn như vậy họ sẽ có thể mua được nhiều hơn hay có thêm tiền để làm mua những hàng hóa, dịch vụ khác. Trong khi người bán thì ngược lại luôn muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao hơn dé nâng cao mức lợi nhuận của mình. Đó là mâu thuẫn về lợi ích giữa người mua và người bán.
Và vì thế, bên bán được quyền đặt giá và bên mua có quyền chấp nhận giá, chỉ đến khi đạt được sự nhất trí của các bên thì hàng hóa, dịch vụ mới được trao đổi. Trên thị trường có rất nhiều người mua và đồng thời cũng có rất nhiều người bán vì vậy giá cả đã được quy luật cung cầu của thị trường quy định cho từng loại hàng hóa, dịch vụ. Chỉ cần một doanh nghiệp nào đó bán hàng hóa, dịch vụ của mình với mức gia cao hơn mà không có sự khác biệt của sản phẩm thì ngay lập tức sẽ bị thị trường từ chối. Giá mà các doanh nghiệp đưa ra chính là giá thành của sản phẩm, dịch vụ cộng với phan lợi nhuận ở mỗi sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp mong muôn đạt được.
Khi định giá các doanh nghiệp cần phải chú ý đến nhiều yếu tố như: nhu cầu thị trường, khả năng chấp nhận giá của từng đối tượng khách hàng, chiến lược phát triển của mình, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh doanh, sự khác biệt của sản phẩm. để có thể định giá và đạt được các mục đích đã đề ra. CHUYÊN ĐÈ THỰC TẬP TÓT NGHIỆP. SVTH: Nguyễn Xuân Thoả.
Giá của các sản phẩm của ngân hàng TMCP chính là mức phí dịch vụ mà khách hàng phải chi trả ra dé có thé sử dụng một dịch vụ nào đó của ngân hàng TMCP vào thời điểm, địa điểm xác định mà người ta còn gọi là biểu phí dịch vụ. Nhìn chung thì biểu phí của các ngân hàng TMCP cho từng sản phẩm cụ thé có sự khác biệt nhât định, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tô như: khối lượng giao dịch, độ an toàn, chính sách của chính phủ,. Giá cả là một tham số marketing quan trọng, vì mọi người ai cũng chú ý đến túi tiền của mình. Tham số này nó có tác động mạnh mẽ đến thành công của các chương trình marketing của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng TMCP nói riêng.
Vì thế, các ngân hàng TMCP cần hết sức chú ý và có tính toán phù hợp dé định giá cho các sản phẩm, dich vụ mà mình cung ứng cho khách hàng.3, Xúc tiễn thương mại (Promotion). Xúc tiến thương mại là các hoạt động có chủ đích của doanh nghiệp trong lĩnh vực marketing nham thúc đây, kiếm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ trên thị trường. Bao gồm các hoạt động: khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, tham gia hội chợ, triển lãm,. Thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại các doanh nghiệp sẽ đưa được thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ cũng như thông tin về doanh nghiệp đến với người tiêu dùng và cả các đối tác.
Từ đó, sẽ giúp cho hình ảnh của sản phẩm, của doanh nghiệp được nhiều người biết đến. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động xúc tiễn thương mại thì doanh nghiệp cũng sẽ có thêm được nhiều thông tin từ thị trường đó chính là cơ sở để doanh nghiệp có thêm cơ hội dé tìm kiếm và chinh phục khách hàng, đối tac, mở rộng thị trường và phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài tác dụng cung cấp và thu| thập thông tin, xúc tiến thương mại còn giúp thúc đây quá trình mua của khách hàng diễn ra nhanh hơn. Thông qua các hoạt động xúc tiền khách hàng đã có thông tin nhất định về sản phẩm, doanh nghiệp vì vậy doanh nghiệp sẽ dé tiép xúc cũng như thuyết phục khách hàng hơn từ đó sẽ tạo ra sự thuận lợi cho cả người mua lẫn người bán trong qua trình trao đôi.
Tác động của xúc tiến thương mại sẽ làm giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp đưa ra dòng sản phẩm tương đối giống các đối thủ cạnh tranh việc có thêm những chương trình xúc tiến thích hợp sẽ mang lại nhiều hơn lợi ích cho khách hàng, mà cũng thông qua xúc tiễn thương mại các doanh nghiệp hiểu về thị trường sẽ có thé đưa ra được những dòng sản phẩm phù hợp với thị hiéu của khách hàng. Xúc tiễn thương mại sẽ làm cho việc bán sản phẩm trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn. Ngoài việc người tiêu dùng năm được thông tin căn bản về sản phẩm, nó còn làm cho chính nhân viên bán hàng cảm nhận được sự an tâm, tạo dựng lòng tin với doanh nghiệp của mình và các chương trình xúc tiến thường mang đến những lợi ích nhất định cho khách hàng nên cũng sẽ dễ dàng hơn trong quá trình thuyết phục. Vì thế sẽ nâng cao được hiệu quả bán hàng cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động xúc tiến thương mại không chỉ giúp các doanh nghiệp ban được nhiều sản phâm hơn mà nó còn làm cho cơ câu tiêu dùng thay đôi. Ngoài việc kích thích những nhu CHUYÊN ĐÈ THỰC TẬP TÓT NGHIỆP. SVTH: Nguyễn Xuân Thoả. cầu sẵn có của khách hàng hoạt động xúc tiến thương mại còn có tác dụng kích thích cả những nhu cầu mới của khách hàng, hướng dẫn và thậm chí là chuyển hướng thị hiếu của khách hàng theo mong muốn của các doanh nghiệp.
Tóm lại, xúc tiến thương mại chính là cầu nối quan trọng giữa khách hàng và doanh nghiệp. Thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại doanh nghiệp sẽ có cơ hội, điều kiện nhìn ra được những ưu, nhược điểm về sản phẩm cũng như của doanh nghiệp để từ đó đưa ra được những quyết định hợp lý và kịp thời. Các ngân hàng TMCP cần đặc biệt chú trọng đến hoạt động xúc tiến thương mai dé quảng bá hình ảnh, năm bắt thông tin thị trường từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển được thị trường, phát trién được hoạt động của mình.4, Địa điểm va phân phối (Place). Không riêng với ngành ngân hàng, các ngân hàng TMCP mà tất cả các doanh nghiệp dé bán hang hay cung ứng dịch vu tốt thì phải thỏa mãn nhiều yêu cầu khác nhau từ phía khách hàng.
Đó không chi là yêu cầu về sản phẩm, dịch vu CÓ chất lượng tốt, giá cả hợp lý mà còn phải có sự thuận tiện trong giao dịch và đúng về cả thời gian và địa điểm cần thiết. Việc chọn địa điểm và mạng lưới phân phối là nội dung vô cùng quan trọng trong chiến lược marketing của mọi doanh nghiệp. Việc lựa chọn địa điểm và mạng lưới phân phối có quan hệ hữu cơ với nhau. Địa điểm sẽ liên quan đến các quyết định về phân phối và các chiến lược xây dựng mạng lưới phân phối, các chiến lược phân phối sẽ quy định tới việc chọn địa điểm.
Thực hiện tốt 2 việc này sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp: Thứ nhất, đảm bảo tính thời điểm và địa điểm tạo ra sự thuận tiện cho khách hàng. Một vị trí tốt không chỉ là nơi năm tại những địa điểm đắt địa như trung tâm, gần chợ, trường học mà phải là nơi thoáng đăng, khách hàng dễ dàng nhận biết, tiếp cận dé giao dich, lam4anvà no phải nam trong tong thé của hệ thống mạng lưới phân phối. Hàng hóa, dịch vụ đã sẵn có và khách hàng cần là sẽ được đáp ứng nhu câu tại nơi gan địa điểm tiêu thụ sẽ làm cho khách hàng hài lòng hơn và tạo ra nhiều sự thuận tiện cho họ. Thứ hai, tiết kiệm được thời gian va chi phí vận chuyền hợp lý.
Địa điểm không chỉ là nơi bán hàng mà còn là nơi sản xuất hàng hóa, nơi mà khách hàng cần đến hàng hóa, dịch vụ.