Luận văn thạc sĩ hay sử dụng di sản văn hóa dân ca quan họ bắc ninh trong dạy học lịch sử việt nam ở trường thpt huyện thuận thành tỉnh bắc ninh

Luận văn thạc sĩ khám phá di sản văn hóa dân ca quan họ Bắc Ninh trong giảng dạy lịch sử tại trường THPT huyện Thuận Thành, Bắc Ninh.

Trường đại học

THPT Thuận Thành

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Luận
117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Giả thuyết khoa học

1.7. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn những đóng góp của luận văn

1.8. Cấu trúc của luận văn

2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT

2.1. Khái niệm di sản văn hóa

2.2. Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh

2.3. Đặc điểm của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông

2.4. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

2.5. Cơ sở thực tiễn. Thực tiễn sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông. Những vấn đề rút ra từ thực tiễn

2.6. Tiểu kết chương 1

3. BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH

3.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử Việt Nam ở trường THPT

3.2. Nội dung cơ bản. Tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh khai thác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT

3.3. Những nội dung Lịch sử Việt Nam sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh

3.4. Các tài liệu về Di sản văn hóa Dân ca quan họ Bắc Ninh khai thác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT

3.5. Yêu cầu khi sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

3.6. Biện pháp sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

3.7. Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong thiết kế chủ đề dạy học

3.8. Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh dạy bài nội khóa

3.9. Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh dạy bài lịch sử địa phương

3.10. Sử dụng Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh để tổ chức hoạt động trải nghiệm

3.11. Thực nghiệm sư phạm

3.11.1. Mục đích, đối tượng, địa bàn và nội dung thực nghiệm

3.11.2. Phương pháp thực nghiệm

3.11.3. Kết quả thực nghiệm

3.12. Tiểu kết chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng di sản văn hóa dân ca Quan họ Bắc Ninh

Di sản văn hóa dân ca Quan họ Bắc Ninh là một phần quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Việc ứng dụng di sản này trong dạy học lịch sử tại THPT Thuận Thành không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử địa phương mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Dân ca Quan họ không chỉ là nghệ thuật biểu diễn mà còn chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, xã hội và nhân văn.

1.1. Khái niệm di sản văn hóa và dân ca Quan họ

Di sản văn hóa là những giá trị vật chất và phi vật chất được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một trong những di sản văn hóa phi vật thể, được UNESCO công nhận là di sản đại diện của nhân loại. Nó phản ánh đời sống, tâm tư và tình cảm của người dân nơi đây.

1.2. Vai trò của di sản văn hóa trong giáo dục

Di sản văn hóa, đặc biệt là dân ca Quan họ, đóng vai trò quan trọng trong giáo dục. Nó giúp học sinh phát triển nhận thức về bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó hình thành lòng tự hào và trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa.

II. Thách thức trong việc ứng dụng di sản văn hóa trong dạy học

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc ứng dụng di sản văn hóa dân ca Quan họ trong dạy học lịch sử tại THPT Thuận Thành cũng gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt tài liệu, sự không đồng nhất trong phương pháp giảng dạy và sự thiếu quan tâm từ phía học sinh.

2.1. Thiếu tài liệu và nguồn lực

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu phù hợp để giảng dạy về dân ca Quan họ. Điều này dẫn đến việc giảng dạy không đầy đủ và thiếu sinh động.

2.2. Sự không đồng nhất trong phương pháp giảng dạy

Các giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong việc giảng dạy di sản văn hóa, nhưng không phải phương pháp nào cũng hiệu quả. Cần có sự thống nhất và hướng dẫn cụ thể để nâng cao chất lượng dạy học.

III. Phương pháp hiệu quả trong việc dạy học lịch sử với di sản văn hóa

Để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử tại THPT Thuận Thành, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực là rất cần thiết. Các phương pháp này bao gồm lồng ghép nội dung di sản văn hóa vào chương trình học, tổ chức hoạt động trải nghiệm và sử dụng công nghệ thông tin.

3.1. Lồng ghép nội dung di sản vào chương trình học

Giáo viên có thể lồng ghép các bài học về dân ca Quan họ vào các bài học lịch sử, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về văn hóa địa phương.

3.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm

Các hoạt động trải nghiệm như tham quan các di tích lịch sử, tham gia vào các buổi biểu diễn dân ca Quan họ sẽ giúp học sinh có những trải nghiệm thực tế, từ đó nâng cao sự hứng thú và hiểu biết về di sản văn hóa.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng di sản văn hóa dân ca Quan họ trong dạy học lịch sử đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nâng cao kiến thức lịch sử mà còn phát triển kỹ năng mềm và tình yêu quê hương đất nước.

4.1. Nâng cao nhận thức của học sinh

Học sinh đã có sự thay đổi tích cực trong nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc, từ đó hình thành lòng tự hào về di sản văn hóa của quê hương.

4.2. Phát triển kỹ năng mềm

Việc tham gia vào các hoạt động liên quan đến dân ca Quan họ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và khả năng sáng tạo.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Việc ứng dụng di sản văn hóa dân ca Quan họ trong dạy học lịch sử tại THPT Thuận Thành là một hướng đi đúng đắn. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng giáo dục và bảo tồn di sản văn hóa.

5.1. Đề xuất các giải pháp

Cần có các giải pháp cụ thể để hỗ trợ giáo viên trong việc giảng dạy di sản văn hóa, bao gồm việc cung cấp tài liệu, tổ chức các khóa bồi dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các hoạt động thực tế.

5.2. Tương lai của di sản văn hóa trong giáo dục

Di sản văn hóa dân ca Quan họ sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, góp phần hình thành thế hệ trẻ có ý thức bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

17/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT 1. Khái niệm di sản văn hóa Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh từ sáng tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, kế thừa và tái tạo qua nhiều thế hệ; là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa văn minh nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy.

Theo Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10; Luật di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung số 32/2009/QH12 [29]: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 4 khoản 1 quy định: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y học, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dược học, cổ truyền, về văn hóa ẩm thục, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”. Theo Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 Điều 1, sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 4: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”.

Tại Điều 2, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản, Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ, câu đối, ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca, văn tế, lời khấn và các hình thức ngữ văn truyền miệng khác; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu, trò nhại, hát đối, trò chơi và các hình thức trình diễn dân gian khác; Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử- đối nhân xử thế; luật tục hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ trong ứng xử với tổ tiên, với ông bà, cha mẹ, với thiên nhiên, ma chay, cưới xin, lễ đặt tên, hành động, lời chào - mời và các phong tục tập quán khác; Lễ hội truyền thống bao gồm lễ hội có nội dung đề cao tinh thần yêu nước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, ca ngợi tinh thần cần cù lao động sáng tạo của nhân dân, đề cao lòng nhân ái, khái vọng tự do hạnh phúc, tinh thần đoàn kết cộng đồng; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức văn hóa dân gian bao gồm tri thức về y học, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về thiên nhiên và kinh nghiệm sản xuất, về binh pháp, về kinh nghiệm sáng tác văn nghệ (học thuật), trang phục truyền thống, đất nước, khí hậu, thời tiết, tài nguyên… và các tri thức dân gian khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối. Di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, dù xét ở góc độ nào thì chúng cũng luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc. Di sản văn hóa nói lên chiều sâu lịch sử, đặc điểm kiến trúc, đời sống tâm hồn.

Di sản văn hóa chính là những gì quá khứ để lại, vì vậy nó có ý nghĩa to lớn, là tấm gương phản chiếu quá khứ và phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc. Di sản văn hóa Dân ca Quan họ Bắc Ninh 1. Nguồn gốc Quan họ Nghĩa của tên gọi Quan họ có nhiều cách giải thích khác nhau, có thể chia thành hai luồng chính: Quan niệm dân gian - cách giải thích của người vùng Quan họ; Quan niệm của các nhà nghiên cứu Quan họ. Theo quan niệm dân gian có ba quan niệm khác nhau về nghĩa của tên gọi Quan họ, gắn liền với nguồn gốc ra đời của Quan họ.

Đó là quan niệm cho rằng Quan họ nghĩa là “Họ nhà quan”; Quan họ nghĩa là “Quan dừng lại” và Quan họ nghĩa là “Quan viên hai họ”. Theo các nhà nghiên cứu, đã có rất nhiều các bài viết, công trình nghiên cứu về Quan họ song chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về nguồn gốc của Quan họ. Đáng chú ý nhất là bài viết “Quan họ tên gọi và nguồn gốc” của nhà nghiên cứu âm nhạc Quan họ Hồng Thao, đăng trên Văn nghệ Hà Bắc số 2-1990. Tác giả cho rằng Quan họ có sớm nhất là từ thế kỉ XV, thời điểm ra đời của thơ lục bát- dạng thơ phổ biến của lời ca Quan họ.

Đồng thời, những liền anh, liền chị gọi nhau là “Quan họ” là “để đề cao, để thi vị hóa bạn mình”. Cho dù Quan họ được giải thích bằng nhiều cách khác nhau về nguồn gốc ra đời, về cách giải thích tên gọi Quan họ thì tựu chung lại, Quan họ là một một hình thức dân ca dân gian đặc trưng của một vùng Kinh Bắc xưa, đã có từ rất lâu đời. Quan họ có nguồn gốc sâu xa từ sinh hoạt giao duyên, đối đáp nam - nữ từ thủa xa xưa mà hầu hết các dân tộc anh em với người Việt đều có. Nó tồn tại thường nhật, tập trung nhất và thăng hoa trong sinh hoạt lễ hội của nhân dân.

Do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc trưng tính chất của loại hình này là truyền miệng nên nó có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng. Không gian văn hóa Quan họ Di sản văn hóa dân ca Quan họ tồn tại và lan tỏa ở cả một vùng rộng lớn. Tuy nhiên, sinh hoạt văn hóa Quan họ thực chất chỉ tồn tại ở một địa vực nhất định, đó là 49 làng quan họ gốc. Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ.

Các làng Quan họ ở Bắc Ninh được phân bố ở thành phố Bắc Ninh (14 làng), huyện Tiên Du (11 làng), huyện Yên Phong (17 làng), huyện Từ Sơn (2 làng). Hát Quan họ thường được tổ chức vào dịp hội xuân. Từ tháng giêng đến tháng 3 hàng năm, bước vào thời kỳ nông nhàn, thời tiết mát mẻ, khô ráo, thuận tiện cho việc tổ chức hội làng. Ngày hội xuân của bất cứ làng Quan họ nào cũng sôi động với các hoạt động hát Quan họ.

Ngoài ra Quan họ còn được hát vào mùa thu, mùa hè hoặc bất cứ ngày nào trong năm trong các dịp mừng thọ, mừng nhà mới, đám cưới…Có hai hình thức hát Quan họ ngoài trời và hát Quan họ trong nhà. Về hình thức trình diễn, trong quá trình tồn tại và phát triển, Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã hình thành nhiều hình thức ca hát. Trong đó, phổ biến cho toàn vùng, Quan họ có 4 hình thức trình diễn khác nhau: Hát chúc, hát mừng; hát thờ (hay còn gọi là ca Quan họ thờ); hát hội và hát canh. Tổ chức cơ sở của Quan họ phổ biến gọi là “bọn Quan họ” (riêng ở Thị Cầu gọi là sân Quan họ).

Mỗi làng Quan họ gốc đều có bọn Quan họ Nam và bọn Quan họ Nữ. Đứng đầu bọn Quan họ là ông Trùm và bà Trùm. Mỗi bọn Quan họ đều có 5 liền anh hoặc 5 liền chị là những người trực tiếp đi “chơi Quan họ”. Mỗi liền anh, liền chị đều có tên phiến chỉ theo thứ tự số lượng, từ anh Hai đến anh Sáu, từ chị Hai đến chị Sáu.

Ngoài ra mỗi bọn Quan họ đều có một người chuyên làm nhiệm vụ sáng tác giọng Quan họ mới và bài đối. Tuy không nằm trong tổ chức nhưng mỗi bọn đều có những người phục vụ đặc biệt là các “em bé” mười, mười hai tuổi theo học. Đây là biện pháp đào tạo tầng lớp kế cận của Quan họ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn hóa Quan họ là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có trang phục Quan họ.

Trang phục Quan họ đóng vai trò không thể thiếu trong trình diễn văn hóa Quan họ. Trang phục của người chơi Quan họ giản dị và mang bản sắc văn hóa dân tộc: liền anh đội khăn xếp, mặc áo the, quần trắng, mỗi người có một chiếc ô đen to gọi là ô lục soạn làm đạo cụ. Liền chị đội nón quai thao, mặc áo mớ ba, mớ bảy với các màu hồng, cánh sen, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím… ngang lưng các liền chị thắt dải lụa đào, hòa cùng màu yếm đào trước ngực vô cùng đẹp mắt. Trong không gian gia đình, liền chị có thể chít khăn mỏ quạ đen.

Các đạo cụ như ô, nón quai thao… của các liền anh, liền chị vừa có ý nghĩa sử dụng vừa góp phần tạo ra vẻ duyên dáng, mềm mại khi ca hát. Có nhiều phong tục trong giao du Quan họ tiêu biểu là tục kết bạn. Đây là một nét đặc biệt trong sinh hoạt văn hóa Quan họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Ứng dụng di sản văn hóa dân ca Quan họ Bắc Ninh trong dạy học lịch sử tại THPT Thuận Thành" khám phá cách thức tích hợp di sản văn hóa dân ca Quan họ vào chương trình giảng dạy lịch sử tại trường THPT. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các yếu tố văn hóa địa phương để làm phong phú thêm nội dung học tập, giúp học sinh không chỉ hiểu biết về lịch sử mà còn cảm nhận được giá trị văn hóa của quê hương. Việc này không chỉ nâng cao sự hứng thú của học sinh mà còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về việc ứng dụng di sản văn hóa trong giáo dục, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn sử dụng di sản văn hóa dân ca quan họ bắc ninh trong dạy học lịch sử việt nam ở trường thpt huyện thuận thành tỉnh bắc ninh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về ứng dụng cụ thể trong bối cảnh Bắc Ninh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ued sử dụng tài liệu về di sản văn hóa vật thể ở địa phương trong dạy học lịch sử việt nam lớp 10 trung học phổ thông tỉnh hải dương cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng di sản văn hóa vật thể trong giảng dạy lịch sử. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục sử dụng di sản văn hóa vùng đbscl trong dạy học lịch sử việt nam từ nguồn gốc đến năm 1918 ở trường thpt thành phố cần thơ sẽ mang đến cho bạn cái nhìn tổng quát hơn về việc ứng dụng di sản văn hóa trong giáo dục lịch sử ở các vùng miền khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực này.