ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống thông tin địa lý (GIS – Geographic Information System) ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên nền tảng sự phát triển của khoa học công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong suốt quá trình phát triển, công nghệ GIS đã luôn hoàn thiện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chuyên dụng đến đa dụng để phù hợp với tiến độ của khoa học kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề ngày một đa dạng hơn và phức tạp hơn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của Internet, công nghệ GIS được phát triển theo hướng tích hợp GIS trên nền Web hay còn gọi là WebGIS. Công nghệ WebGIS - cung cấp khả năng quản lý thông tin lãnh thổ trên cơ sở tích hợp các thông tin bản đồ và thông tin thuộc tính của đối tượng trên nền Web - đã trở thành một hướng đi mới mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội trong đó có lĩnh vực du lịch.
Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng mang lại hiểu quả về nhiều mặt cho sự phát triển của một đất nước. Để phát triển du lịch cần có một hệ thống thông tin nhanh, đầy đủ và thân thiện nhằm hỗ trợ và cung cấp các thông tin du lịch cần thiết cả về thuộc tính lẫn địa điểm không gian cho khách du lịch. Việc cung cấp thông tin bởi phương pháp truyền thống như tờ rơi, bản đồ giấy hay bản đồ trên máy desktop không phổ biến được thông tin một cách rộng rãi, nhanh chóng cho khách hàng, mặc khác còn tốn chi phí lớn cho các nhà đầu tư về khoảng in ấn hay cài 1 đặt phần mềm bản đồ ứng dụng trên desktop. Vì thế, phương pháp sử dụng mạng Internet thật sự hữu ích khi cùng lúc có thể mang đến thông tin đầy đủ, nhanh chóng, thuận tiện cho nhiều khách hàng, dễ dàng trong việc sử dụng và giảm chi phí cài đặt sử dụng phần mềm trên desktop, giúp nhà đầu tư du lịch quảng bá thông tin vừa hiệu quả vừa tiết kiệm.
Bên cạnh đó, dịch vụ Google maps API ngày càng phát triễn, cung cấp miễn phí nhiều loại bản đồ trên phạm vi toàn thế giới. Việc tích hợp Google maps API vào WebGIS sẽ hỗ trợ tích cực cho việc ứng dụng và phát triển bản đồ trên nền Web, mang đến cái nhìn tổng quan cho khu vực quan tâm và giảm bớt gánh nặng về mặt dữ liệu. WebGIS mã nguồn mở với nhiều ưu điểm như miễn phí, khả năng phát triển, hỗ trợ bởi cộng đồng lớn mạnh,… là xu hướng phố biến thông tin mạnh mẽ trên Internet không chỉ dưới góc độ thông tin thuộc tính thuần túy mà nó kết hợp được với thông tin không gian. Vì thế, công nghệ WebGIS mã nguồn mở phù hợp cho việc phát triển các ứng dụng quản lý thông tin thuộc tính và không gian đáp ứng nhu cầu trên.
Trên cơ sở đó, thực hiện đề tài “Ứng dụng Công nghệ WebGIS mã nguồn mở phục vụ công tác quảng bá du lịch” là thật sự cần thiết.2 Mục tiêu đề tài Thiết kế và xây dựng trang WebGIS mã nguồn mở phục vụ công tác giới thiệu và quảng bá các địa điểm tham quan, du lịch. Mục tiêu cụ thể như sau: Thiết kế và xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý về các địa điểm du lịch. Thiết kế chức năng và thiết kế giao diện trang WebGIS để cung cấp thông tin các điểm du lịch. Xây dựng trang WebGIS giới thiệu các điểm du lịch với các chức năng tương tác bản đồ, hiển thị, tìm kiếm và cập nhật các thông tin du lịch.3 Giới hạn đề tài Giới hạn về thời gian: Đề tài được giới hạn thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/1/2013 đến 1/6/2013.
Giới hạn về công nghệ Đề tài sử dụng công nghệ WebGIS mã nguồn mở với các ứng dụng: Web Server: Apache. Map Server: Geoserver. Thư viện hỗ trợ: OpenLayers, GeoExt. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: PostgreSQL/PostGIS.
Giới hạn về địa lý Ứng dụng công nghệ WebGIS mã nguồn mở phục vụ công tác quảng bá du lịch có thể được thực hiện cho nhiều khu vực khác nhau. Trong phạm vi của đề tài, Mũi Né thuộc thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) được chọn làm khu vực thực hiện thí điểm.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài góp phần vào việc phát triển và mở rộng công nghệ Web hiện nay theo hướng WebGIS mã nguồn mở, tích hợp thông tin không gian và thông tin thuộc tính thành một hệ thống thông tin hoàn chỉnh trên nền Web. Đề tài là nền tảng trong việc nghiên cứu và ứng dụng WebGIS mã nguồn mở phục vụ lĩnh vực du lịch nói riêng và các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nói chung.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xây dựng trang WebGIS mã nguồn mở hỗ trợ cho các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp du lịch trong việc quản lý, cập nhật và quảng bá ngành du lịch. Cung cấp cho người sử dụng một phương tiện tìm hiểu, tìm kiếm địa điểm tham quan và các dịch vụ du lịch một cách nhanh chóng, hiệu quả và thân thiện.
3 Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Kiến thức tổng quan 2.1 Khái niệm WebGIS hay công nghệ GIS trên nền Web là hệ thống thông tin địa lý phân tán trên một mạng các máy tính để tích hợp, trao đổi các thông tin địa lý trên mạng Internet. Trong cách thực hiện việc phân tích GIS, dịch vụ này giống như kiến trúc Client-Server của Web. Xử lý thông tin địa lý được chia thành các nhiệm vụ ở phía Server và phía Client. Điều này cho phép người dùng có thể truy xuất, thao tác và nhận kết quả từ việc khai thác dữ liệu GIS từ trình duyệt web của họ một cách đơn giản không cần sự hỗ trợ của phần mềm GIS.
WebGIS hoạt động theo mô hình client – server giống như hoạt động của một Website thông thường, vì thế hệ thống WebGIS cũng có kiến trúc ba tầng (3 tier) điển hình của một ứng dụng Web thông dụng. Kiến trúc 3 tier gồm có ba thành phần cơ bản đại diện cho ba tầng: Client, Application Server và Data Server (xem hình 2.1 Sơ đồ kiến trúc 3 tầng của WebGIS (Trương Trường Thịnh, 2010) Client: thường là một trình duyệt Web browser như Internet Explorer, Fire Fox, Chrome,…để mở các trang web theo URL (Uniform Resource Location – địa chỉ định vị tài nguyên thống nhất) định sẵn. Các client đôi khi cũng là một ứng dụng desktop tương tự như phần mềm MapInfo, ArcGIS,… Application Server: thường được tích hợp trong một Web Server. Ngoài ra, khác với hệ thống Web thường, đối với hệ thống WebGIS thì Web Server còn kết hợp với một ứng dụng bản đồ trên phía server gọi là Map Server (Map Server có thể là ArcGIS Server, MapServer, GeoServer,…).
Web Server còn được gọi là HTTP Server ( như Apache). Chức năng chính của Web Server là tiếp nhận và đáp lại những yêu cầu từ những trình duyệt Web thông thường thông qua nghi thức truyền dữ liệu trên mạng HTTP. Map Server là nơi hoàn thành những truy vấn không gian, chỉ dẫn phân tích không gian, tạo và trả lại bản đồ theo yêu cầu từ Client. Data Server: là nơi lưu trữ các dữ liệu bao gồm cả dữ liệu không gian và phi không gian.
Các dữ liệu này được tổ chức lưu trữ bởi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như 5 PostgreSQL/PostGIS, Microsoft SQL Server 2008, MySQL, Oracle,…hoặc có thể lưu trữ ở dạng các tập tin dữ liệu như shapfile, XML,… 2.2 Nguyên lý hoạt động Web Server tiếp nhận các yêu cầu từ Client, lấy dữ liệu từ CSDL theo yêu cầu của Client và trả kết quả theo yêu cầu. Khi Client gửi yêu cầu đến server, Web Server sẽ phân tích yêu cầu nhận được. Nếu yêu cầu đó liên quan đến bản đồ hay dữ liệu địa lý, Web Server sẽ gửi yêu cầu đến Map Server để truy xuất những thông tin liên quan đến dữ liệu bản đồ. Khi có được nguồn dữ liệu phù hợp với yêu cầu của Client, Map Server gửi sang Web Server.
Web Server sẽ trả thông tin về cho người duyệt web theo giao diện web được cài đặt sẵn.3 Tính năng ưu việt của WebGIS Công nghệ WebGIS ngày càng phát triển phổ biến cùng với sự phát triển và phổ biến của đường truyền internet và máy trạm có tốc độ cao, các thiết bị di động và máy tính bảng. Bảo vệ bản quyền phần mềm, và mã nguồn, dữ liệu bản đồ gốc. Thuận tiện cho người sử dụng khi không cần cài đặt các phần mềm GIS mà vẫn xem được thông tin thuộc tính và không gian qua mạng, dễ dàng cho việc tương tác dữ liệu không gian mà không yêu cầu trình độ chuyên môn.2 Chuẩn dữ liệu không gian OGC Open Geospatial Consortium (OGC) là một tổ chức phi lợi nhuận, dẫn đầu trên thế giới về phát triển các chuẩn dữ liệu địa lý và các dịch vụ, đã đưa ra các đặc tả về các loại dịch vụ sau: 6 2.1 Web Map Service (WMS) WMS là một trong các chuẩn phổ biến nhất của OGC. WMS tạo ra các bản đồ dưới dạng ảnh.
Các bản đồ này tự bản thân chúng không chứa dữ liệu. Một WMS cơ bản cho phép Client kết nối và lấy bản đồ thông qua các phương thức: GetCapabilties: trả về tài liệu XML mô tả chức năng của WMS. GetMap: trả về các lớp bản đồ dựa vào các tham số được cung cấp bởi Client. Các tham số có thể được nhúng vào trong một URL (Uniform Resource Locator) của dịch vụ.
GetFeatureInfo: trả về thông tin liên quan đến một đối tượng được hiển thị trên bản đồ tại vị trí X, Y. Phương thức này cho phép Client có thể truy vấn để có thêm thông tin về một đối tượng. Ngoài ra, WMS còn cung cấp cho Client kiểm soát các kiểu hiển thị bản đồ thông qua Styled Layer Desrciptor (SLD) (Trần Quốc Vương, 2006).2 Web Feature Service (WFS) WFS cung cấp các đối tượng dữ liệu dưới dạng định dạng thống nhất GML (Geography Markup Languge). Dữ liệu mà Client nhận được là một đặc tả về dữ liệu không gian và thông tin thuộc tính kèm theo.
Một WFS cơ bản cho phép Client kết nối và lấy dữ liệu về theo các phương thức: GetCapabilities: trả về tài liệu XML mô tả chức năng của WFS. DescribeFeatureType: trả về một lược đồ XML định nghĩa các lớp đối tượng. GetFeature: trả về một tập các đối tượng dữ liệu thoả mãn các ràng buộc được mô tả trong yêu cầu. Ngoài ra, WFS còn cho phép Client thực hiện các giao tác tạo, xóa, sửa các đối tượng (Trần Quốc Vương, 2006).