Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ VĂN BẢN TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát chung về quản lý văn bản 1. Khái niệm văn bản Văn bản là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà các ngành đó có những định nghĩa khác nhau về từ này.
Dưới góc độ ngôn ngữ học thì định nghĩa “Văn bản là sản ph'm lời nói ở dạng viết của hoạt động giao tiếp mang tính hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung nhằm đạt tới một hoặc một số giao tiếp nào đó ”. Dưới góc độ văn bản học, văn bản được hiểu theo nghĩa rộng nhất: Văn bản là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ nhất định. Dưới góc độ hành chính học thì văn bản được giải thích theo nghĩa hẹp hơn: Khái niệm dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Với nghĩa này thì các chỉ thị, quyết định, chương trình, báo cáo, thông báo.được hình thành trong hoạt động hàng ngày của các cơ quan, tổ chức đều được gọi là văn bản.
Văn bản điện tử là một trong những phương tiện ghi tin được sử dụng rộng rãi trong thời đại ngày nay. Theo quy định tại Nghị định số 64/2007/NĐ- CP về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động quản lý nhà nước, “Văn bản điện tử” là văn bản được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Như vậy, với tính chất là một loại hình văn bản, văn bản điện tử trước hết cũng phải đảm bảo yêu cầu ổn định, thống nhất, cố định và truyền đạt thông tin cho nhiều đối tượng. Điểm khác biệt giữa văn bản bản điện tử với 10 văn bản giấy và các loại hình văn bản khác chính ở kỹ thuật ghi tin, lưu trữ và truyền tin.
Các công đoạn này được thực hiện bằng các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ và các công nghệ tích hợp. Khái niệm quản lý văn bản Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý văn bản là lĩnh vực hoạt động đảm bảo văn bản và tổ chức công việc với văn bản của hoạt động trong cơ quan, tổ chức bao gồm cả việc quản lý văn bản chính thức đã ban hành và văn bản đang trong giai đoạn dự thảo. Chu chuyển văn bản là đường đi của văn bản trong hệ thống từ thời điểm được tạo lập hay tiếp nhận văn bản điện tử đến việc thực thi và gửi văn bản trả lời, tức là toàn bộ vòng đời của các loại văn bản khác nhau trong tổ chức đến khi chuyển vào lưu trữ hay hủy.
Tổ chức quản lý và giải quyết văn bản là thực hiện những công việc cụ thể, khoa học để quản lý chặt chẽ và giải quyết kịp thời những văn bản hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, đồng thời phục vụ cho việc tra tìm văn bản được nhanh chóng, thuận tiện. Bởi vậy, công tác quản lý văn bản nói riêng và công tác văn thư đều có vai trò quan trọng trong mỗi cơ quan, đơn vị. Quản lý văn bản là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm giúp cho cơ quan, doanh nghiệp và thủ trưởng cơ quan, lãnh đạo doanh nghiệp nắm được thành phần, nội dung và tình hình tiếp nhận, chuyển giao nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo an toàn văn bản hình thành trong hoạt động hàng ngày của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. 11 Công tác quản lý văn bản được xác định là một mặt hoạt động của công tác văn thư nói chung.
Trong các cơ quan, tổ chức, công tác quản lý văn bản không thể thiếu được và là nội dung quan trọng trong công tác văn thư, chiếm một phần rất lớn trong nội dung hoạt động của cơ quan, tổ chức. Như vậy, công tác quản lý văn bản gắn liền với hoạt động của các cơ quan, được xem như một bộ phận hoạt động quản lý nhà nước, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, Văn bản được tồn tại chủ yếu dưới hai hình thức là văn bản giấy và văn bản điện tử. Do vậy, các cơ quan đơn vị phải có các phương tiện, nghiệp vụ kỹ thuật để quản lý trên cả văn bản giấy và văn bản điện tử.
Ở các cơ quan nhà nước việc quản lý văn bản giấy được thực hiện theo quy định của nhà nước và quy tắc cụ thể về các thao tác nghiệp vụ. Văn bản được kiểm soát và quản lý ngay từ thời điểm được chuyển đến cơ quan. Khi làm việc với văn bản cần thực hiện một số thao tác chung mà không phụ thuộc vào nội dung văn bản như: nhận, chuyển, đăng ký, chuyển đến bộ phận chức năng, kiểm tra việc thực hiện, đưa ra chỉ dẫn tra cứu. Tất cả điều đó cho phép đảm bảo theo dõi đường đi của bất kỳ văn bản nào đến cơ quan nhà nước, vì không một văn bản đăng ký nào có thể biến mất mà không có dấu vết.
- Công tác quản lý văn bản trong cơ quan bao gồm các nội dung sau: + Quản lý văn bản đi; + Quản lý văn bản đến; + Quản lý các văn bản đang dự thảo; + Lập hồ sơ công việc; + Lưu trữ văn bản; + Chu trình quản lý văn bản. 12 Quản lý văn bản điện tử là thực hiện những nội dung quản lý văn bản đã trình bày ở trên nhưng không phải là đối với văn bản giấy truyền thống mà là quản lý văn bản ở dạng số, qua mạng tin học và các thao tác nghiệp vụ quản lý văn bản được thực hiện tự động. - Hệ thống quản lý văn bản điện tử gồm các thành tố sau: + Lưu giữ các thuộc tính của văn bản + Lưu giữ văn bản trong các tệp dữ liệu và bảo quản đặc biệt. + Đăng ký văn bản + Nâng cao khả năng tác nghiệp và rút ngắn thời gian chu chuyển văn bản.
+ Lưu chuyển không ngừng văn bản; + Hệ thống tìm kiếm văn bản hiệu quả; + Hệ thống đánh giá, kiểm tra, cho phép kiểm soát chu chuyển văn bản. Khi nói đến việc tự động hoá công tác văn thư tức là nói đến các công nghệ xử lý văn bản từ việc soạn thảo đến hệ thống quản lý việc chuyển văn bản và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu. Từ đó có rất nhiều sản phẩm chương trình như hệ thống quản lý văn bản, hay đúng hơn là các tệp dữ liệu trên máy tính, các chương trình soạn thảo văn bản, lập bảng, vẽ, đồ thị v.v… - Quản lý văn bản phải tuân thủ các nguyên tắc sau: + Nhằm mục đích quản lý tập trung thống nhất mọi công việc trong cơ quan, đơn vị tất cả mọi văn bản đi và đến bằng các con đường khác nhau đều phải được chuyển qua bộ phận văn thư để đăng ký vào sổ, sao lưu và làm các thủ tục cần thiết khác. + Gửi văn bản giữa các cấp, các ngành trong bộ máy Nhà nước phải theo đúng hệ thống tổ chức.
Văn bản của cơ quan cấp trên gửi xuống cấp dưới trực tiếp và văn bản của cơ quan cấp dưới gửi cho cơ quan cấp trên trực tiếp, không gửi văn bản vượt cấp, trừ các trường hợp đặc biệt. 13 + Việc tiếp nhận và gửi văn bản có những vấn đề bí mật của cơ quan Nhà nước thì phải thực hiện theo đúng chế độ giữ gìn bí mật Nhà nước. Quản lý văn bản là công việc mang tính khoa học, yêu cầu nhà quản lý phải biết vận dụng quy định trong công tác văn thư để xây dựng quy trình quản lý phù hợp tùy điều kiện và phương tiện quản lý. Quản lý văn bản tài liệu giấy đã khó khăn và phức tạp bởi số lượng lớn song quản lý văn bản điện tử lại càng khó hơn rất nhiều do tài liệu, dữ liệu điện tử giai đoạn gần đây mới hình thành, việc quản lý lưu trữ còn đang lúng túng, cơ sở pháp lý của VBĐT dường như mới đang ở giai đoạn tạm thời, trong thời gian tới qua quá trình vận hành cần sửa đổi để phù hợp với thực tế.
Yêu cầu trong công tác quản lý văn bản Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc, việc quản lý văn bản đến cũng như văn bản đi ở các cơ quan phải bảo đảm các yêu cầu dưới đây: - Nhanh chóng: Quá trình giải quyết công việc của cơ quan phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng văn bản và tổ chức quản lý, giải quyết văn bản. Do đó, xây dựng văn bản nhanh chóng, giải quyết nhanh chóng mọi công việc của cơ quan. Giải quyết văn bản chậm sẽ làm giảm tiến độ giải quyết công việc của mọi cơ quan, giảm ý nghĩa của sự việc được đề cập trong văn bản. Đồng thời gây tốn kém tiền của, công sức và thời gian của các cơ quan.
- Chính xác: đây là một yêu cầu quan trọng đối với công tác văn thư nói chung, việc quản lý văn bản nói riêng. Chính xác về nội dung của văn bản: + Nội dung văn bản phải tuyệt đối chính xác về mặt pháp lý, tức là phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và các văn bản quy định của các cơ quan nhà nước cấp trên; 14 + Dẫn chứng hoặc trích dẫn ở văn bản phải hoàn toàn chính xác, phù hợp với thực tế, không thêm bớt, bịa đặt, không che dấu sự thật … + Số liệu phải đầy đủ, chứng cứ phải rõ ràng. Chính xác về mặt thể thức văn bản: + Văn bản ban hành phải có đầy đủ các thành phần do Nhà nước quy định: Quốc hiệu; Tác giả; Số; Ký hiệu văn bản; Địa danh, ngày tháng năm ban hành; Tên loại trích yếu nội dung văn bản; Nội dung; thể thức, kỹ thuật, chữ ký, con dấu của cơ quan; Nơi nhận văn bản. các yếu tố thông tin nêu trên phải được trình bày đúng vị trí, phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ; + Mẫu trình bày phải đúng tiêu chuẩn Nhà nước ban hành.
Chính xác về khâu kỹ thuật nghiệp vụ: + Yêu cầu chính xác phải được quán triệt một cách đầy đủ trong tất cả các khâu nghiệp vụ như đánh máy văn bản, đăng ký văn bản, chuyển giao văn bản.