Luận văn thạc sĩ ứng dụng công nghệ thông tin của hiệu trưởng vào quản lý dạy học ở các trường thpt thành phố lào cai tỉnh lào cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin của hiệu trưởng trong quản lý dạy học tại các trường THPT thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dạy học

Phần này trình bày cơ sở lý luận về việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý dạy học tại các trường THPT. Nghiên cứu trên thế giới và trong nước đều khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong giáo dục. Các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore đã triển khai nhiều chương trình quốc gia để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Ở Việt Nam, Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo. Các hội thảo khoa học cũng đã đề cập đến các giải pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.

1.1. Nghiên cứu trên thế giới

Các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore đã triển khai nhiều chương trình quốc gia để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Ví dụ, Hàn Quốc đã thành lập 'Quỹ thúc đẩy CNTT' để xây dựng xã hội thông tin. Singapore cũng khởi động kế hoạch tổng thể về CNTT trong giáo dục từ năm 1997, đảm bảo mọi trẻ em được tiếp cận với môi trường học tập hiện đại.

1.2. Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo. Các hội thảo khoa học như 'Nghiên cứu và triển khai E-Learning' và 'Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học' đã đề cập đến các giải pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.

II. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dạy học tại trường THPT Lào Cai

Phần này phân tích thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học tại các trường THPT thành phố Lào Cai. Nghiên cứu cho thấy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụng CNTT, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất và thiết bị CNTT chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của CNTT còn chưa đồng đều. Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học cũng chưa đạt hiệu quả cao.

2.1. Cơ sở vật chất và thiết bị CNTT

Cơ sở vật chất và thiết bị CNTT tại các trường THPT Lào Cai chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhiều trường thiếu máy tính, phần mềm chuyên dụng và hệ thống mạng ổn định. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học.

2.2. Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của CNTT còn chưa đồng đều. Nhiều giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học, dẫn đến việc ứng dụng CNTT chưa hiệu quả.

III. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dạy học tại trường THPT Lào Cai

Phần này đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học tại các trường THPT Lào Cai. Các giải pháp bao gồm nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị CNTT, tổ chức các khóa tập huấn nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT, và chỉ đạo giáo viên tăng cường ứng dụng CNTT trong kiểm tra đánh giá.

3.1. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

Cần tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo để nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của CNTT trong quản lý và dạy học. Điều này sẽ giúp họ nhận thức đúng đắn và nghiêm túc hơn trong việc ứng dụng CNTT.

3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị CNTT

Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị CNTT để đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học. Điều này bao gồm việc trang bị máy tính, phần mềm chuyên dụng và hệ thống mạng ổn định cho các trường.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ ứng dụng công nghệ thông tin của hiệu trưởng vào quản lý dạy học ở các trường thpt thành phố lào cai tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA HIỆU TRƯỞNG VÀO QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Bước sang thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới, thánh thức mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, công nghệ tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, trong đó đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã được ứng dụng ngày càng nhiều vào các lĩnh vực đời sống xã hội. Hiện nay, thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia.

Việc ứng dụng CNTT là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học? Vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Australia, Canada, Nhật Bản, Phần Lan. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.

Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Các nước trên đã rất quan tâm đầu tư, quản lý việc ứng dụng CNTT, ví dụ như: Ở Mỹ và các nước châu Âu, những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục được thực hiện từ rất sớm nên dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối thập niên 90 [12]. Hàn Quốc xác định rõ: Mục tiêu chiến lược của chính sách đẩy mạnh tin học hóa ở Hàn Quốc là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000. Để thực 5 hiện mục tiêu này, chính phủ Hàn Quốc thành lập “Quỹ thúc đẩy CNTT” do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý [12].

Singapore: Bộ Giáo dục Singapore đã khởi động kế hoạch tổng thể về CNTT trong giáo dục (Master Plan for IT in Education) từ năm 1997. Với chương trình này, mọi trẻ em của Singapore được đảm bảo cơ hội tiếp cận với môi trường học đường mang đậm màu sắc CNTT. Một Ủy ban máy tính quốc gia đã ra đời để quản lý và chỉ đạo công tác đó. Tháng 7/2002, Bộ Giáo dục Singapore đã công bố Kế hoạch tổng thể CNTT2 nhằm kế thừa và phát huy những thành công của kế hoạch 1 và tiếp tục đưa ra những định hướng chung cho các trường trong việc tận dụng những cơ hội CNTT đem lại để phục vụ giảng dạy và học tập [12].

Chính nhờ những chính sách và quản lý đúng đắn về phát triển CNTT mà những quốc gia nói trên đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục trong những thập kỉ qua. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, với quan điểm phát triển: Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động; Công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông là một ngành kinh tế mũi nhọn; Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã nêu rõ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT. Tại cuộc họp "Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và triển khai Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông" vào tháng 12/2010, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: "CNTT không chỉ là ngành công nghiệp dịch vụ phát triển với tốc độ cao, đóng góp lớn vào nguồn thu cho đất nước mà còn là động lực phát triển hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội.

Ngày nay không một ngành nào, lĩnh vực nào phát triển mà không dựa vào sự hỗ trợ của CNTT-TT" [16]. 6 Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam như: - Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. - Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT: “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006.

Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Qua nghiên cứu cho thấy các hội thảo về ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT đều khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường. Thực tế việc đưa CNTT vào quản lý quản lý dạy học trong nhà trường phổ thông còn tồn tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết như: Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên; trình độ tin học cơ bản của nhiều CBQL, giáo viên còn yếu; đặc biệt là còn nhiều CBQL, giáo viên vẫn chưa nhận thức đúng đắn và nghiêm túc về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH. Những khái niệm cơ bản 1.

Quản lý Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998) thì: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.” Với các tiếp cận khái niệm về “quản lý” theo các nhà nghiên cứu như sau: - Theo F. Koontz (người Mỹ) thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Trong học thuyết quản lý của mình H.

Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Kiểm tra và sau này được kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra. - Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [30]. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý.

Song tựu chung lại các định nghĩa trên đều thể hiện: - Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý. - Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.

- Quản lý vừa là môn khoa học, vừa là một nghệ thuật. Vì vậy, trong hoạt động quản lý, người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức tới đích. Bằng cách nào đó để người bị quản lý phải sẵn sàng tận tâm, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội. Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức, phải có 8 nội dung, phương pháp, phương tiện, kế hoạch hành động và một môi trường nhất định.

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Đối tượng chủ yếu của quản lý là những con người xã hội, vì con người sử dụng tài nguyên, các trang thiết bị kỹ thuật (cũng là đối tượng quản lý) đồng thời là chủ thể của xã hội loài người. Khách thể quản lý này bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Của Hiệu Trưởng Trong Quản Lý Dạy Học Tại Trường THPT Lào Cai" khám phá vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong việc quản lý và cải tiến quy trình dạy học tại các trường trung học phổ thông. Tài liệu nhấn mạnh những lợi ích mà công nghệ mang lại, bao gồm việc nâng cao hiệu quả giảng dạy, cải thiện giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, cũng như tối ưu hóa việc quản lý thông tin học sinh. Độc giả sẽ tìm thấy những phương pháp ứng dụng cụ thể và các ví dụ thực tiễn, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức công nghệ có thể được tích hợp vào giáo dục.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn ngữ văn ở các trường trung học cơ sở thái nguyên tỉnh thái nguyên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng công nghệ trong dạy học môn ngữ văn, từ đó giúp bạn có thêm góc nhìn và ý tưởng cho việc ứng dụng công nghệ trong các môn học khác.