phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về tuyển dụng công chức các sở. Thực trạng tuyển dụng công chức các Sở tỉnh Luông Nậm Thà, nƣớc cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện tuyển dụng công chức của các Sở tỉnh Luông Nậm Thà, nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CÁC SỞ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tuyển dụng Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những ngƣời có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức hoặc một chƣơng trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng. Tuyển dụng là hoạt động nhằm tìm kiếm ngƣời phù hợp với yêu cầu của tổ chức.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “tuyển dụng là chọn và vận vào làm việc ở cơ quan, xí nghiệp” [37, tr. Theo Từ điển tiếng Lào do Sivieng Khek Konenivong biên soạn, “tuyển dụng là sự nhận ngƣời vào làm việc sau khi đƣợc đào tạo” [53]. Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút và khuyến khích những cá nhân có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cả ở bên trong và bên ngoài tổ chức tham gia dự tuyển vào các chức danh cần ngƣời trong công việc. Những ứng viên hội đủ những tiêu chuẩn của công việc sẽ có thể đƣợc tuyển dụng 35, tr.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau những ngƣời đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà tổ chức cần tuyển. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một quốc gia, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau, ở từng thời kỳ phát triển khác nhau, song nhìn chung, các nƣớc đều giới hạn công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nƣớc. Những ngƣời hoạt động do bầu cử, hoạt động kinh doanh không phải là công chức.
6 Ở Việt Nam, theo Luật Cán bộ, công chức 2008, quan niệm công chức nhƣ sau: - Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [22]. - Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [22]. Ở Pháp, công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công cộng, bao gồm cả trung ƣơng, địa phƣơng [2]. Ở Mỹ, công chức bao gồm những ngƣời làm việc trong ngành hành chính của Chính phủ, đƣợc bổ nhiệm về chính trị và những ngƣời liên quan chức nghiệp làm việc trong hành pháp [30].
Dù quan niệm của mỗi quốc gia là khác nhau về cán bộ, công chức nhƣng theo quan niệm chung của nhiều quốc gia trên thế giới thì công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. 7 Sau cuộc cách mạng giải phóng đất nƣớc tháng 12 năm 1975, nhà nƣớc CHDCND Lào ra đời, đồng thời nền công vụ cũng đƣợc ra đời theo từng giai đoạn cách mạng, khái niệm “công chức” đã đƣợc hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện gắn với phát triển nền hành chính nhà nƣớc. Khái niệm công chức lần đầu đƣợc nêu trong Nghị quyết số 171/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy chế công chức Lào” do Khăn Tay SI PHĂN DONE ký (có hiệu lực từ ngày 11/11/1993). Tại điều 2 Quy chế công chức Lào định nghĩa: “Công dân Lào đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong một cơ sở Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngành, hƣởng lƣơng do ngân sách Nhà nƣớc cấp gọi là công chức” [46].
Theo quy chế này, phạm vi công chức còn khá hẹp (là ngƣời làm công ăn lƣơng trong các cơ quan chính phủ), song do điều kiện chiến tranh nên thực tế nghị quyết chƣa đƣợc thực hiện. Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 88/ThT ngày 19/5/2003 thì cán bộ, công chức là một khái niệm dùng chung để chỉ đối tƣợng làm việc cho Đảng, Nhà nƣớc và các cơ quan quần chúng cấp trung ƣơng, địa phƣơng. Cụ thể, tại Điều 2 Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 định nghĩa: “Cán bộ, công chức của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là công dân Lào, ngƣời đƣợc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên tại các cơ quan tổ chức của Đảng, Nhà nƣớc, cơ quan tổ chức quần chúng cấp trung ƣơng, cấp địa phƣơng và cơ quan đại diện nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nƣớc ngoài đƣợc hƣởng tiền lƣơng và trợ cấp khác từ ngân sách nhà nƣớc” [45]. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2015, cán bộ, công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức, viên chức hoặc đƣợc giao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm của pháp luật.
8 Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2015 bao gồm: + Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) ở quận, huyện, thị xã (sau đây gọi chung là cấp huyện) [43]. + Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng cấp tỉnh, cấp huyện [43]; + Những ngƣời đƣợc quyền tuyển dụng bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc đƣợc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện [43]; + Những ngƣời đƣợc tuyển dụng bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc bao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội [43]; + Thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân [43]. + Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân, mà không phải là sĩ quân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phai là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp [43]; Xuất phát từ thể chế của Lào, cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức đƣợc hiểu không chỉ giới hạn, gồm những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc, hay hẹp hơn là trong phạm vi nền hành chính quốc gia, mà là toàn thể những 9 ngƣời hoạt động thƣờng xuyên trong cả hệ thống chính trị; bao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức chính trị - xã hội. Từ cách hiểu trên về công chức, có thể hiểu công chức là công dân đƣợc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong bộ máy nhà nƣớc, trong bộ máy giúp việc của tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, đƣợc hƣởng tiền lƣơng và trợ cấp khác từ ngân sách nhà nƣớc.
Công chức Sở là công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở (cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân tỉnh), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, thực hiện nhiệm vụ theo quy định. Khái niệm tuyển dụng công chức Tuyển dụng công chức có 2 cách hiểu theo nghĩa rộng và hẹp khác nhau: - Theo nghĩa rộng, tuyển dụng công chức là sự tuyển chọn ngƣời vào những vị trí nhất định trong bộ máy nhà nƣớc, gồm: tuyển ngƣời mới vào bộ máy nhà nƣớc (tuyển dụng mới); đề bạt lên các vị trí cao hơn trong hệ thống thứ bậc (thăng tiến); thuyên chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu công chức. - Theo nghĩa hẹp, tuyển dụng công chức là lựa chọn những ngƣời mới để đƣa vào hệ thống công vụ. Qua tuyển dụng, một công dân gia nhập vào hàng ngũ công chức và đƣợc cơ quan nhà nƣớc giao thực hiện một công vụ nhất định.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính thì “Tuyển dụng công chức là việc tuyển ngƣời vào cơ quan nhà nƣớc sau khi đã đạt kết quả của kì thi tuyển” [15, tr. Tuyển dụng công chức có thể đƣợc hiểu là tuyển chọn rồi bổ nhiệm ngay một chức vụ hay một vị trí việc làm gắn với một ngạch công chức trong cơ quan, tổ chức của nhà nƣớc. Những ngƣời đƣợc tuyển sẽ bổ nhiệm vào một trong các ngạch công chức, tùy theo văn bằng và trình độ học thức hay năng 10 lực, khi mới đƣợc tuyển bổ. Việc tuyển dụng công chức liên quan chặt chẽ với bổ nhiệm, một ngƣời phải có đủ năng lực cần thiết mới đƣợc tuyển dụng vào hệ thống công vụ và bổ nhiệm vào ngạch công chức nào đó.
Ở góc độ ngƣời sử dụng công chức thì tuyển dụng là việc tìm kiếm một con ngƣời vào một vị trí công việc phù hợp với khả năng của họ.