Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng và triển khai vị trí việc làm trong cơ quan nhà nước. Trình bày các khái niệm, đặc điểm, vai trò của vị trí việc làm trong cơ quan nhà nước; Phân loại vị trí việc làm, nội dung hoàn thiện vị trí việc làm và 7 các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thiện vị trí việc làm trong cơ quan quản lý nhà nước. Chương 2: Thực trạng xây dựng và hoàn thiện vị trí việc làm Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013 - 2015. Trình bày Thực trạng xây dựng và hoàn thiện vị trí việc làm tại Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau giai đoạn 2013 - 2015; Đánh giá chung về xây dựng và hoàn thiện trí việc làm tại Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện vị trí việc làm Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau giai đoạn 2016 - 2020. Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; Khuyến nghị chính sách để hoàn thiện vị trí việc làm tại Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau đến năm 2020; đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần kết luận: Tổng kết lại các nội dung đã nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm về việc làm, vị trí việc làm, nguyên tắc xác định vị trí việc làm 1. Việc làm Có những cách hiểu khác nhau về việc làm. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình (ILO, 1988).
Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm (Bộ Luật Lao động, 2012). Nếu như trước đây, trong các văn bản pháp luật vấn đề việc làm chủ yếu được đề cập ở góc độ cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động thì đây là lần đầu tiên khái niệm việc làm được ghi nhận trong văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước. Theo đó, Bộ luật Lao động năm 2012, tại Điều 9 thì “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Vị trí việc làm Cũng giống như các khái niệm khác, VTVL được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều khía cạnh các cấp độ khác nhau theo đó có những nhận thức tương ứng: VTVL là một chế độ công vụ.
Trên thế giới cho đến nay đã có các chế độ công vụ khác nhau như: nha lại, chức nghiệp, cán bộ, việc làm, phối hợp. Theo đó chế độ công vụ việc làm không thuần túy chỉ là các quy định mà là một chỉnh thể với nhiều nội dung từ quy định đến thực tế quản lý, sử dụng, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ… Sự khác biệt cơ bản giữa chế độ công vụ việc làm với các chế độ công vụ khác thể hiện ở chỗ đòi hỏi người làm việc phải có các năng lực thực tế để đảm nhận được VTVL mà họ đảm nhiệm theo khung năng lực chung của VTVL đó; không bắt buộc người 9 làm việc phải gắn với công việc mà họ đảm nhiệm như một chức nghiệp - cả đời làm công chức và cũng vì điều này mà chế độ VTVL còn được gọi là chế độ công vụ mở để phân biệt với chế độ chức nghiệp, cán bộ. Tính mở của chế độ công vụ này còn thể hiện ở việc người làm việc có thể thi tuyển ngay vào vị trí lãnh đạo, quản lý với điều kiện họ đạt được yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng và thể chất để đảm nhiệm VTVL và cơ quan, tổ chức có nhu cầu tuyển dụng đối với vị trí đó. VTVL là một trong số các nguyên tắc của pháp luật công chức, công vụ.
Với ý nghĩa như vậy VTVL thể hiện trong các quy định chung của pháp luật công chức, công vụ với nội hàm và ý nghĩa là cơ sở để quản lý, sử dụng công chức. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì VTVL là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị từ việc tuyển dụng, bố trí sử dụng, nâng ngạch, đề bạt, bổ nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá (Quốc hội, 2008). Theo Luật Viên chức năm 2010 thì VTVL là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (Quốc hội, 2010). Mặc dù được tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau nhưng các bộ phận tạo thành vị trí việc làm gồm bốn bộ phận chính (Luật Cán bộ, công chức 2008): (1) Chức vị: tên gọi vị trí việc làm; (2) Chức trách: nhiệm vụ và quyền hạn mà người đảm nhiệm vị trí việc làm phải thực hiện; (3) Tiêu chuẩn: yêu cầu về trình độ, kỹ năng chuyên môn mà người đảm nhiệm vị trí việc làm phải đáp ứng; (4) Tiền lương: tiền lương được trả tương xứng với chức vị, chức trách, tiêu chuẩn của người đảm nhiệm công việc.
Trong phạm vi của luận văn này, nghiên cứu VTVL Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau sẽ đi theo hướng khái niệm VTVL trong Luật Công chức năm 2008. VTVL là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị từ việc tuyển dụng, bố trí sử dụng, nâng ngạch, đề bạt, bổ nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá. Biên chế Biên chế là số lượng người cần có để làm việc trong một đơn vị, được xác định bởi vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền giao. Giữa số lượng biên chế được cấp có thẩm quyền giao và số người làm việc thực tế trong đơn vị chưa hẳn bằng nhau vì số biên chế được xác định trên cơ sở vị trí việc làm, nếu vị trí đó chưa có người làm thì nó không bằng với số biên chế giao.
Trên cơ sở từng vị trí, chức danh xác định số lượng biên chế, mỗi một biên chế có thể đảm trách một công việc; một biên chế có thể đảm trách nhiều công việc; một người có thể phụ trách nhiều công việc; mỗi công việc chỉ một người phụ trách. Nguyên tắc xác định VTVL Theo Bộ Nội vụ (2012), xác định và quản lý VTVL dựa trên 04 nguyên tắc: (1) Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý công chức; (2) VTVL được xác định và điều chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị; (3) VTVL phải gắn với chức danh, nghề nghiệp, chức vụ quản lý tương ứng; (4) Bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Đặc điểm và vai trò của xác định VTVL trong cơ quan nhà nước 1. Đặc điểm của xác định VTVL trong cơ quan nhà nước Xác định VTVL trong cơ quan nhà nước có các đặc điểm sau: Thứ nhất, xác định VTVL xem xét xem trong hệ thống khối phòng, ban có bao nhiêu VTVL và cần bao nhiêu người để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của khối phòng, ban đó.
Thức hai, là cơ sở xây dựng kế hoạch phân bổ, điều chỉnh, bổ sung nguồn nhân lực, bố trí biên chế phù hợp với từng đối tượng gắn với VTVL, chức danh nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức. Thứ ba, là cơ sở đổi mới khâu tuyển dụng, chỉ tuyển dụng đúng VTVL còn thiếu và đảm bảo người được tuyển dụng đáp ứng được năng lực của VTVL đó. Thứ tư, là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý đánh giá cán bộ, công chức, 11 viên chức trên từng lĩnh vực cụ thể, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả, công khai, minh bạch, phát huy năng lực, khả năng công tác của các cán bộ, công chức, viên chức ở từng đơn vị. Vai trò của xác định VTVL trong cơ quan nhà nước Xác định VTVL đóng vai trò quan trọng trong công tác rà soát lại toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các phòng ban hiện có của cơ quan nhà nước để từ đó có kế hoạch phân bổ, điều chỉnh, bổ sung nguồn nhân lực, bố trí biên chế phù hợp.
Là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu công chức, viên chức để thực hiện tuyển dụng, bố trí sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức. Là cơ sở để đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên từng lĩnh vực cụ thể, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả, công khai, minh bạch, phát huy năng lực, khả năng làm việc của các cán bộ, công chức, viên chức ở từng đơn vị. Kế t quả xác định VTVL sẽ đặt nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức phải nỗ lực vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, phải tự đổi mới, gương mẫu đi đầu trong việc đổi mới tư duy, phong cách, lề lối làm việc, tăng cường học tập chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. PHÂN LOẠI VỊ TRÍ VIỆC LÀM VÀ NỘI DUNG HOÀN THIỆN VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1.
Phân loại vị trí việc làm 1. Tiêu chí xác định vị trí việc làm Công việc chính, cơ bản của một chức danh hoặc chức vụ (phải thực hiện thường xuyên, liên tục, có tính ổn định lâu dài và lặp đi lặp lại gắn với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo từng vị trí việc làm và dự tính thời gian thực hiện dành cho công việc chính đó theo mỗi nhiệm vụ). Các công việc khác (phối hợp, đột xuất, tham gia khảo sát, nắm tình hình thực tế cơ sở). Công việc theo nội dung, quy trình, thông tin đầu vào, thủ tục, thời gian xử lý, sản phẩm đầu ra hay kết quả công việc thực hiện theo vị trí việc làm.
Phân loại VTVL Vị trí việc làm theo ngạch công chức: Ngạch công chức là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý công chức theo hệ thống chức nghiệp. Theo Luật cán bộ công chức 2008 ngạch được hiểu là hệ thống các chức danh được sắp xếp theo thứ tự, từng loại theo quy định của nhà nước, cụ thể: Chuyên viên cao cấp và tương đương; Chuyên viên chính và tương đương; Chuyên viên và tương đương; Cán sự và tương đương; Nhân viên.