Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, TỈNH ĐẮK NÔNG 1. Cơ sở khoa học về tuyển dụng công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Các khái niệm có liên quan cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Công chức Tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội và cơ cấu bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia mà khái niệm, phạm vi công chức được xác định khác nhau, không hoàn toàn thống nhất.
Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi các cơ quan hành pháp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước, thi hành pháp luật. Cũng có nước quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công. Ở Trung Quốc, khái niệm công chức nhà nước dùng để chỉ những người công tác trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Công chức nhà nước Trung Quốc gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước, được hình thành theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương các cấp.
Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, là lực lượng chiếm đại đa số trong đội ngũ công chức nhà nước, chịu trách nhiệm chấp hành, thực thi các chính sách pháp luật nhà nước. Ở Pháp, khái niệm công chức có nội hàm khá rộng và không rõ ràng. 10 Theo đó, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở của cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công, người do nhà nước tổ chức, ở Trung ương và địa phương, nhưng không tính các công chức địa phương, họ thuộc các hội đồng địa phương quản lý. Có thể hiểu công chức Pháp gồm ba loại: Công chức trong ngạch hành chính nước; trực thuộc các Bộ trưởng.
Công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ, trong đó công chức trực thuộc cơ quan hành chính địa phương không được coi là công chức nhà nước và không trực thuộc chính quyền Trung ương. Công chức trực thuộc các công sở tự quản, trong đó có các bệnh viện, ngoài việc thực hiện quy chế chung của nhà nước đối với công chức còn phải thực hiện quy chế riêng của các công sở tự quản. Ở Anh, mặc dù không có định nghĩa rõ ràng mang tính pháp lý, song công chức Anh có thể được coi là: “Các nô bộc của nhà vua, không phải là những người giữ các chức vụ chính trị hoặc tư pháp, những viên chức dân sự hưởng lương trực tiếp và hoàn toàn từ ngân sách được Nghị viện thông qua”. Như vậy, công chức Anh bao gồm những người do nhà vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự; những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Liên hiệp Vương Quốc Anh hoặc từ các khoản ngân sách được Quốc hội thông qua đều gọi là công chức.
Như vậy, công chức Anh là những người thay mặt Nhà nước giải quyết việc công. Ở Nhật Bản, khái niệm công chức bao hàm cả công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước bao gồm những nhân viên giữ các chức vụ trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, Quốc hội, quân đội, nhà trường và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức địa phương hưởng lương của ngân sách địa phương.
Công chức nhà nước được chia thành hai loại: công chức chung và công chức đặc biệt. Công chức đặc 11 biệt là những công chức được bổ nhiệm theo pháp luật không qua thi tuyển. Còn lại, tất cả đều thuộc công chức chung. Như vậy, không có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, mỗi quốc gia có cách xác định phạm vi công chức rộng, hẹp khác nhau.
Có quốc gia chỉ giới hạn công chức trong phạm vi hoạt động quản lý nhà nước; có quốc gia lại quan niệm công chức là cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất dịch vụ công như giáo dục, y tế, các nhân viên bán quân sự, các nhân viên của cơ quan lập pháp và tư pháp hay cả những công chức chính trị. Song, nhìn chung, các nước đều giới hạn công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước, những nhà hoạt động chính trị do bầu cử, hay hoạt động kinh doanh không phải là công chức. Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức” không giống nhau qua các thời kỳ. Qua thời gian dài, khái niệm cán bộ, công chức ở nước ta còn mang tính chất chung chung, chưa có sự phân biệt rõ ràng.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “cán bộ, công chức” xuất hiện nhiều trong văn bản chính trị, pháp luật và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cách hiểu và sử dụng chúng không phải lúc nào cũng rõ ràng và thống nhất. Khái niệm cán bộ xuất hiện trong nước ta vào những năm 30 của thế kỷ XX, để chỉ một lớp người, những chiến sỹ cách mạng chịu sự hy sinh, gian khổ, đấu tranh dành độc lập dân tộc. Và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khái niệm cán bộ được dùng phổ biến chỉ tất cả những người tham gia hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân và chiến sỹ.
Trong thời gian dài ở nước ta, khái niệm cán bộ gần như dùng thay thế cho khái niệm công chức. Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội giữ chức vụ nào đó. Dưới góc độ hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự trở lên, phân biệt với nhân viên có mức lương 12 thấp hơn cán sự. Điểm khởi đầu của sự hình thành khái niệm công chức ở Việt Nam là việc ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Quy chế công chức.
Theo Quy chế này, phạm vi công chức là rất hẹp, chỉ những người được tuyển dụng giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, tức là đội ngũ công chức hành chính Nhà nước, theo cách nói hiện nay. Sau đó, suốt một thời gian khá dài (từ đầu những năm 1960 tới cuối những năm 1980), khái niệm công chức ít được sử dụng, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Khi thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, thuật ngữ công chức được sử dụng lại. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước.
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003, công chức được xác định từ các tiêu chí: được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch trong hệ thống hành chính nhà nước và giữ một chức vụ, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước cấp, được hưởng chế độ nghỉ ngơi hưu trí theo sau khi ra khỏi công vụ. Tiếp đó, theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cho rằng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ 13 máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cụ thể hơn Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 do Chính phủ ban hành đã quy định cụ thể những người là công chức. Nghị định đưa ra căn cứ xác định công chức tại Điều 2: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này”.
Theo đó, Điều 3 đến Điều 11 Nghị định quy định cụ thể các đối tượng là công chức; Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt nam; Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện; Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân; Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. Có thể nhận thấy sự thay đổi mang tính cụ thể hơn về nội hàm của “công chức”. Về cơ bản, khái niệm công chức ở nước ta hiện nay khá tương đồng với khái niệm công chức của Nhật Bản, đó là công chức đều là người được tuyển dụng và bổ nhiệm làm một công việc thường xuyên trong một công sở của Nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.