Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo" do sinh viên Bùi Thị Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Thanh Hà tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 05 năm 2005). Nghiên cứu thuộc nhóm đề tài lý luận chính trị và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tôn giáo.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Chính sách "Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" do Người đề ra đã đóng góp to lớn vào khối đại đoàn kết toàn dân, phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tình hình tôn giáo xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để xâm nhập đời sống xã hội, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc nhằm chống phá chế độ chính trị nước ta. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện bộ máy quản lý, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo chính đáng của đồng bào có đạo, vừa kiên quyết phát hiện, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo trái pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng vào xây dựng, hoàn thiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước là đòi hỏi khách quan của công cuộc đổi mới.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả xác định mục đích bao trùm là làm rõ những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trên cơ sở đó làm sáng tỏ sự vận dụng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hoạch định chính sách tôn giáo, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Khái quát những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, đặc biệt là các nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo.
  2. Đi sâu tìm hiểu sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh về tôn giáo phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam; làm rõ quan điểm của Người về tôn giáo và công tác vận động đồng bào giáo cũng như đồng bào lương.
  3. Khái quát đặc điểm và tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  4. Làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng chính sách tôn giáo, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quan điểm, chính sách tôn giáo thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo được phản ánh qua các bài viết, bài nói, thư từ và tác phẩm của Người.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát tư tưởng Hồ Chí Minh từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và sự vận dụng của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn đổi mới đất nước đến năm 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hệ thống văn kiện chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiêu biểu là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo.

Về cơ sở pháp lý, khóa luận căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ:

  • Hiến pháp năm 1946 (chương quy định về quyền tự do tín ngưỡng) và Hiến pháp năm 1992 (Điều 70 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo).
  • Chính cương của Mặt trận Liên Việt ngày 28/5/1946 (Điều 7, điểm 1).
  • Chỉ thị số 37/BCT ngày 02/7/1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
  • Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về hoạt động tôn giáo.
  • Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 (đặc biệt là Điều 7 và Điều 32).
  • Hướng dẫn số 500 HĐ/TGCP ngày 04/12/1993 của Ban Tôn giáo Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 379/TTg của Thủ tướng Chính phủ, cùng các quy định của Luật Đất đai và Luật Xuất bản liên quan đến tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích gắn liền với tổng hợp, đối chiếu và so sánh tài liệu. Tác giả kết hợp phân tích các trích đoạn văn kiện lịch sử với việc liên hệ thực tiễn xã hội để làm sáng tỏ tính khoa học và giá trị ứng dụng của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Toàn tập các tác phẩm, bài phát biểu, thư từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các bài nghiên cứu lý luận đăng tải trên Tạp chí Cộng sản.
  • Các công trình chuyên khảo đã xuất bản: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo" của GS.TS. Lê Hữu Nghĩa và PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2003); "Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam" (NXB Chính trị quốc gia, 2002); "Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo" (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); "Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay" của TS. Nguyễn Hữu Khiển (NXB Công an nhân dân).
  • Nguồn tin tức báo chí chính thống (Báo Cứu quốc, Báo Nhân dân) và số liệu quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo

Chương I tập trung làm rõ hai mảng nội dung lớn: quan điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và sự vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trước hết, tác giả hệ thống hóa các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin:

  • Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và một hình thể xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan nhưng là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài. Tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng, là "chỗ dựa tinh thần", "tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức".
  • Nguyên tắc giải quyết tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm: (1) Khắc phục dần ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xóa bỏ nguồn gốc hiện thực sinh ra ảo tưởng; (2) Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cũng như tự do không tín ngưỡng của công dân; (3) Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi đánh giá, ứng xử với từng tôn giáo, từng giáo sĩ, chức sắc; (4) Phân biệt rành mạch giữa hai mặt: nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng và mưu đồ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động.

Tiếp đó, chương phân tích ba nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo:

  1. Tư tưởng về đoàn kết lương giáo, hòa hợp với dân tộc: Đoàn kết tôn giáo là bộ phận khăng khít của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Muốn đoàn kết lương giáo phải đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết, vì "nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do". Đồng thời, phải chăm lo cả đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào có đạo, hướng dẫn tín đồ thực hiện phương châm "phần xác ấm no, phần hồn thong dong", sống "tốt đời đẹp đạo". Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải xóa bỏ mặc cảm, định kiến, không được kỳ thị, xa lánh đồng bào Công giáo do những tàn dư lịch sử để lại. Đặc biệt, Người tiếp thu và kế thừa giá trị nhân bản, hướng thiện của các tôn giáo và học thuyết lớn, coi Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên đều có điểm tương đồng là muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại.
  2. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân: Hồ Chí Minh coi tự do tín ngưỡng là quyền cơ bản của con người. Ngay tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Người nêu rõ 6 vấn đề cấp bách, trong đó vấn đề thứ 6 là đề nghị Chính phủ tuyên bố "Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết". Quyền này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1946 và các cương lĩnh chính trị của Mặt trận. Người tôn trọng các tín ngưỡng truyền thống, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tôn vinh những người có công với nước. Song song với bảo đảm tự do tín ngưỡng, Người kiên quyết phê phán tệ mê tín dị đoan, kiên quyết xử lý các đối tượng "đội lốt tôn giáo để phản chúa, phản nước", lừa bịp, cưỡng bức đồng bào di cư.
  3. Tư tưởng về mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, đức tin và lòng yêu nước: Người khẳng định đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn mà thống nhất biện chứng. Một tín đồ chân chính trước hết phải là một công dân yêu nước; người Công giáo tốt phải "kính Chúa yêu nước", người Phật tử phát huy truyền thống "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội". Độc lập của Tổ quốc là điều kiện tiên quyết để tôn giáo phát triển tự do và giáo hội được tự chủ nhân sự người Việt Nam.

Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng chính sách tôn giáo ở Việt Nam

Chương 2 trình bày sự cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh vào đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước qua các giai đoạn, đặc biệt là thời kỳ đổi mới.

Tác giả khái quát 5 đặc điểm nổi bật của tôn giáo ở Việt Nam:

  • Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo: có sự hiện diện của các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo) và các tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Hòa Hảo). Riêng 6 tôn giáo lớn đã có hơn 20 triệu tín đồ, cùng hàng chục triệu người thực hành tín ngưỡng dân gian.
  • Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng: các tôn giáo cùng tồn tại hòa bình trong cộng đồng dân tộc, không có chiến tranh tôn giáo; điện thờ chấp nhận hiển hiện nhiều vị thần linh, tín đồ dễ tiếp nhận các hành vi tâm linh đan xen.
  • Tính trội của yếu tố nữ: xuất phát từ nền văn minh lúa nước và tàn dư chế độ mẫu hệ (quan niệm âm - đất - mẹ), hệ thống thờ phụng phổ biến các hình tượng nữ thần như Phật Bà Quan Âm, Thánh Mẫu, Đức Mẹ.
  • Truyền thống thờ cúng tổ tiên và tôn vinh người có công gắn liền với chu kỳ đời sống và sinh hoạt làng xã.
  • Tôn giáo luôn là địa bàn bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước triệt để lợi dụng. Khóa luận dẫn chứng cụ thể: ở vùng Tây Bắc, kẻ xấu đẩy mạnh truyền đạo Tin Lành trong đồng bào Mông, Dao dưới danh nghĩa "Vàng Chứ", "Thìn Hùng" nhằm kích động lập "Vương quốc người Mông"; ở Tây Nguyên, các phần tử phản động lập ra tổ chức "Tin Lành Đề Ga" với âm mưu lập "Nhà nước Đề Ga tự trị", tổ chức đưa người vượt biên trái phép sang Campuchia, gây ra vụ gây rối an ninh trật tự đầu năm 2001.

Từ việc phân tích tình hình thực tiễn, chương 2 làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua 4 quan điểm chỉ đạo của Đảng:

  1. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bình đẳng, đoàn kết lương giáo.
  2. Đặt việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong tổng thể vấn đề dân tộc; gắn bó với dân tộc là tiêu chuẩn số một để tôn giáo tồn tại và phát triển.
  3. Đặt tôn giáo trong mối quan hệ với văn hóa; khẳng định đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với xã hội mới; bảo tồn văn hóa vật thể, phi vật thể tôn giáo đi đôi với xóa bỏ mê tín, hủ tục.
  4. Kiên quyết đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo vào mục đích chống phá Tổ quốc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Chương này cũng phân tích 6 nhiệm vụ công tác tôn giáo (bảo đảm sinh hoạt bình thường; tuyên truyền chủ trương; hoàn thiện pháp luật; nâng cao cảnh giác chống phản động; xây dựng củng cố tổ chức cơ sở Đảng và bồi dưỡng cán bộ; đẩy mạnh vận động quần chúng qua Mặt trận Tổ quốc) và các nhóm chính sách cụ thể theo Nghị định 26/1999/NĐ-CP (chính sách với tín đồ, chức sắc; công nhận pháp nhân; hoạt động từ thiện; quản lý nhà, đất tôn giáo - nguyên tắc không trả lại nhà đất tôn giáo đã hiến tặng có văn bản xác nhận; quan hệ quốc tế; xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo; hoạt động kinh tế).

Cuối chương, tác giả đề xuất 4 giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước:

  • Thực hiện chính sách tôn giáo bằng hành động thiết thực, nói đi đôi với làm, quan tâm đồng thời cả "phần đời" và "phần đạo".
  • Bảo đảm đối xử công bằng, dân chủ thực sự ở các vùng đồng bào có đạo; nâng cao đời sống kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên và biên giới phía Bắc.
  • Tiến hành công tác quản lý tôn giáo một cách khoa học, kiên trì, khéo léo như một nghệ thuật, tránh nóng vội chủ quan.
  • Khơi dậy cội nguồn truyền thống dân tộc thiêng liêng làm chất keo gắn kết các tôn giáo với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp, phân tích các luận điểm lý luận và dữ liệu thực tiễn về công tác tôn giáo ở Việt Nam. Các dữ kiện, mốc lịch sử và văn bản chính sách quan trọng trong khóa luận được hệ thống hóa qua bảng sau:

Danh mục dữ kiện / Văn bản Nội dung / Số liệu trích xuất từ văn bản
Quy mô tín đồ tôn giáo 6 tôn giáo lớn có hơn 20 triệu tín đồ; hàng chục triệu người thực hành tín ngưỡng dân gian.
Mốc lịch sử 03/9/1945 Hồ Chí Minh nêu 6 vấn đề cấp bách, xếp tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết ở vị trí thứ 6.
Văn bản pháp luật nền tảng Hiến pháp 1946 (chương I); Hiến pháp 1992 (Điều 70); Chỉ thị 37/BCT (1998); Nghị định 26/1999/NĐ-CP (1999).
Hiện tượng lợi dụng tôn giáo Tây Bắc: hiện tượng "Vàng Chứ", "Thìn Hùng" lập "Vương quốc người Mông". Tây Nguyên: "Tin Lành Đề Ga" lập "Nhà nước Đề Ga tự trị", vụ việc lộn xộn đầu năm 2001.
Quản lý nhà đất tôn giáo Hướng dẫn số 500 HĐ/TGCP (04/12/1993) theo Chỉ thị 379/TTg: Không xem xét trả lại nhà, đất do các tổ chức tôn giáo đã hiến tặng có văn bản xác nhận.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả đã:

  • Hệ thống hóa một cách toàn diện các bài viết, bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo từ thời kỳ dựng nước năm 1945 đến giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
  • Chỉ rõ tính quy luật của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống văn hóa hòa đồng, khoan dung tôn giáo của dân tộc Việt Nam.
  • Luận giải cơ sở thực tiễn của các chủ trương lớn trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX), đồng thời làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo tại thời điểm năm 2005.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào tháng 05 năm 2005, do đó các phân tích về chính sách pháp luật chủ yếu dựa trên khung khổ của Hiến pháp 1992, Nghị định số 26/1999/NĐ-CP và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 mới ban hành, chưa thể đánh giá toàn diện quá trình thi hành Pháp lệnh trên thực tế cũng như các văn bản luật sau này.

Về phạm vi tài liệu, nghiên cứu tập trung khai thác tư liệu lịch sử, văn kiện Đảng và chính sách đối với một số tôn giáo lớn (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành), chưa phân tích sâu các hiện tượng tôn giáo mới hoặc biến chuyển phức tạp của tôn giáo trong bối cảnh bùng nổ internet và toàn cầu hóa sâu rộng. Đây là những khoảng trống học thuật mà các nghiên cứu tiếp theo về tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách tôn giáo có thể tiếp tục phát triển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Chính trị học, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước khi nghiên cứu chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc tôn giáo học.

Tài liệu có giá trị trực tiếp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, công tác dân vận và cán bộ Mặt trận Tổ quốc các cấp trong việc nắm bắt phương pháp vận động quần chúng tín đồ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phần phân tích về tính dung hợp văn hóa, chính sách xử lý đất đai tôn giáo và giải pháp đấu tranh phòng chống lợi dụng tôn giáo ở địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc là những nội dung có giá trị thực tiễn cao cho việc nghiên cứu quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những điểm chung gì giữa các nhà sáng lập tư tưởng, tôn giáo lớn trên thế giới? Trong các bài viết được trích dẫn ở khóa luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân; tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả; chủ nghĩa Mác - Lênin có phương pháp làm việc biện chứng; chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có chính sách thích hợp với điều kiện Việt Nam. Điểm tương đồng lớn nhất giữa các bậc vĩ nhân này là đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người và mưu phúc lợi cho xã hội.

2. Khẩu hiệu "Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" được Hồ Chí Minh đề xuất trong văn cảnh lịch sử nào? Khẩu hiệu này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra tại cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 03/9/1945. Trong 6 nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng non trẻ, vấn đề thứ 6 được Người chỉ rõ là phải đập tan chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương của thực dân phong kiến, từ đó đề nghị Chính phủ chính thức tuyên bố thực hiện tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.

3. Khóa luận phản ánh âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động ở Tây Bắc và Tây Nguyên như thế nào? Tại Tây Bắc, các đối tượng xấu lợi dụng việc truyền đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc thiểu số (Mông, Dao) dưới các tên gọi "Vàng Chứ", "Thìn Hùng" nhằm kích động tư tưởng ly khai, mưu toan thành lập "Vương quốc người Mông". Tại Tây Nguyên, các thế lực phản động kích động thành lập tổ chức "Tin Lành Đề Ga" nhằm hướng tới thành lập "Nhà nước Đề Ga tự trị", tổ chức vượt biên trái phép sang Campuchia và gây ra vụ rối loạn trật tự an ninh xã hội nghiêm trọng vào đầu năm 2001.

4. Chính sách của Nhà nước đối với vấn đề khiếu kiện đất đai, nhà ở đã được các tổ chức tôn giáo hiến tặng được quy định ra sao? Căn cứ theo Hướng dẫn số 500 HĐ/TGCP ngày 04/12/1993 của Ban Tôn giáo Chính phủ thực hiện Chỉ thị 379/TTg, các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến nhà và cơ sở tôn giáo đã chuyển giao cho chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng được xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành. Riêng đối với những trường hợp nhà, đất do tổ chức tôn giáo đã hiến tặng và có văn bản xác nhận hợp pháp thì Nhà nước nhất quán nguyên tắc không đặt vấn đề trả lại.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Yến đã khái quát có hệ thống những luận điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, từ nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng đến chiến lược đại đoàn kết lương giáo và dung hợp văn hóa dân tộc. Nghiên cứu làm rõ sự vận dụng sáng tạo hệ thống quan điểm này vào các chủ trương của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Các kết luận và giải pháp quản lý nhà nước được tác giả đề xuất đóng góp luận cứ thiết thực nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo tại Việt Nam.