mở đầu các triều đại là anh hùng giải phóng dân tộc, xuất thân từ nhân dân mà trưởng thành, do đó quan hệ giữa vua, quan và dân chúng không xa cách bao nhiêu. Thể hiện nét đặc trưng này, Lý Thường Kiệt từng tuyên Luan van 9 bố: “Người làm vua của dân, cốt phải nuôi dân” [79, tr. Với ông,“nuôi dân”(dưỡng dân) thì phải bỏ các kế sách tham tàn, phải loại trừ sự sách nhiễu làm hại dân, phải ngăn chặn sự đục khoét dân để làm giàu cho mình. Nhờ quán triệt tư tưởng đó mà cuộc kháng chiến chống quan xâm lược Tống của ông đạt kết quả rực rỡ ở thế kỷ X, mở ra thời kỳ phát triển của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập.
Trần Quốc Tuấn đã lãnh đạo quân dân nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông ở thế kỷ XIII. Từ trải nghiệm qua 3 cuộc chiến đó, Ông rút ra một số bài học về giữ nước, trong đó có bài học về thái độ đối với dân. Ông nêu: Phải làm sao để “Lòng dân không xa rời mình”, muốn vậy, phải có kế sách cố kết được lòng dân, đó là nới lỏng sự đóng góp của dân. “Khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách của sự giữ nước” [80, tr.
Nguyễn Trãi là nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XV. Với quan niệm phải “Nuôi dân”, “Chăn dân" , “Huệ dân”; phải xem “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Bình Ngô đại cáo), “đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp giặc cốt để yên dân” (Thư dụ hàng Bình Than); phải tránh chính sự phiền hà làm hại đến cuộc sống của dân. Ông đã góp phần tạo dựng nên chính sách nhân nghĩa thời kỳ Lê sơ mà kết quả là giành được chủ quyền đất nước từ tay giặc Minh, đem lại xã hội thái bình, nhân dân no ấm và phát triển thịnh vượng. Thái độ và chính sách của các triều đại Lý, Trần, Lê đối với dân đã tạo cho người dân sự gắn bó với triều đình, tạo cho đất nước một cục diện thống nhất, vững mạnh, tạo cho dân tộc một sức mạnh chống ngoại xâm và giữ gìn bờ cõi.
Lý luận làm cơ sở cho thái độ và chính sách đó tuy không nhiều nhưng quan điểm thì rõ ràng và ý nghĩa hiện thực thì vô cùng to lớn. Chính giá trị của tư tưởng thân dân đó đã làm tiền đề cho sự chuyển biến nhận thức Luan van 10 trong quan niệm về dân ở các thời kỳ lịch sử sau này, làm cơ sở cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ ở thế kỷ XX. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có nhận xét: “Trong lịch sử lâu đời của dân tộc, làng là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng của mọi người, cuộc sống đa dạng và phong phú, vừa có tính đẳng cấp phong kiến, vừa có tính cộng đồng rất đáng quý. Lúc bấy giờ, câu nói “Phép vua thua lệ làng” có cái đạo lý chân chính của nó, chừng nào thể hiện một dạng dân chủ mà phải biết nhìn với con mắt lịch sử thì mới thấy hết ý nghĩa độc đáo” [37].
Các triều đại đang lên và các nhà tư tưởng tiêu biểu của các triều đại ấy dù có nêu trách nhiệm “nuôi dân”, “chăn dân” coi “dân là gốc nước”, xem “dân là quý”, điều đó cũng chỉ là biểu hiện của chủ nghĩa nhân bản của tinh thần dân tộc mang ý nghĩa thân dân chứ chưa đạt đến tư tưởng dân chủ, dân quyền. Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ trên thế giới ở thời cận đại gắn liền với các cuộc cách mạng Tư sản ở châu Âu (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII). Trong giai đoạn lịch sử này, giai cấp tư sản sinh thành và từng bước đảm đương vai trò lịch sử chống phong kiến, chống thần quyền đòi tự do, bình đẳng. Dân chủ, nhân quyền lúc này đã trở thành một trào lưu tư tưởng có ý nghĩa tích cực, tiến bộ, thúc đẩy sự ra đời các thiết chế dân chủ tư sản.
Đây là một sự chuyển biến có tính cách mạng trong quan niệm về dân chủ và về vai trò của dân. Nó ảnh hưởng tích cực tới sự hình thành tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, khi mà tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp qua “Tân Thư”, “Tân Văn” từ Trung Quốc và Nhật Bản truyền vào Việt Nam. Từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi, Việt Nam đã là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Lúc này, sự lựa chọn các hệ tư tưởng làm bệ đỡ tinh thần để dân Luan van 11 tộc đủ sức chống giặc ngoại xâm, giành lấy nền độc lập và phát triển đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Rất nhiều chí sỹ yêu nước đã đề xướng thực hiện dân chủ, dân sinh… Những tư tưởng của các chí sỹ yêu nước nêu ra đã làm phấn chấn lòng người, họ đặt tất cả hy vọng vào phép “dời non sông” ấy, nhưng phải bắt đầu từ đâu và bằng con đường nào ? Câu trả lời vẫn bỏ ngõ… b. Những ảnh hưởng của văn hóa phương Đông và phương Tây Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo, nhưng Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”.
Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo, nhưng là Nho giáo của những người yêu nước qua bổn phận trung - hiếu của người dân đối với sự mất còn của dân tộc. Những giá trị văn hóa phương Đông, đặc biệt là Nho giáo mà Hồ Chí Minh tiếp thu đó là phải xem dân là gốc nước. Sách “Thượng thư” nói: “Dân có thể gần, không thể coi thường.
Dân là gốc nước. Gốc có vững thì nước mới yên”, Hồ Chí Minh đã phát triển quan niệm đó, Người khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [49, tr. 410] Khổng Tử nói: Có được dân tin thì triều chính mới vững vàng, và để được dân tin, theo Khổng Tử phải làm hàng loạt việc có liên quan tới dân như phải làm sao được lòng dân, đáp ứng nguyện vọng của dân, loại trừ cái dân không thích. Kế thừa và phát triển quan niệm này, Hồ Chí Minh luôn đề cao Luan van 12 yêu cầu mọi người phải rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực công tác để vì nước quên thân, vì dân phục vụ.
Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Họ chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc. Những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà Nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ.
Về sau, khi đã trở thành người mác - xít, Hồ Chí Minh vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc - độc lập; dân quyền - tự do; dân sinh - hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong Quốc hiệu của Việt Nam: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Tuy nhiên, những yếu tố trên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để có thể hình thành nên tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Ngay khi còn ở trong nước, điều hấp dẫn nhất đối với Hồ Chí Minh đó là khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng tư sản Pháp và Mỹ… Bởi vậy, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây - quê hương của các trào lưu tư tưởng dân chủ cách mạng, với hy vọng tìm được con đường để cứu nước, cứu dân.
Đến với quê hương của những lý tưởng ấy, Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng, và tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Tuy vậy, từ thực tiễn các nơi Người đến, nghiên cứu… Hồ Chí Minh đã thấy rõ rằng, khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” chỉ tồn tại trên lý thuyết còn thực tế đã mất dần ý nghĩa. Người đã nhìn rõ giới hạn lịch sử của nền dân chủ tư sản, của cách mạng tư sản. Luan van 13 Tất nhiên từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiếp thu được nội dung thực chất của tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ cho mình.
Qua gần 10 năm khảo sát (1911 - 1920) ở nhiều nước châu Á, Châu Phi, Khu vực Mỹ La tinh đã đem lại cho Người những nhận thức mới: Ở các nước thuộc địa, đâu đâu người lao động cũng bị chủ nghĩa thực dân đế quốc đầy ải trong tủi nhục, đói nghèo, bị bóc lột đàn áp dã man và ở đâu các dân tộc bị áp bức cũng đều có khát vọng đấu tranh đòi giải phóng. Ở Pháp, nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Cu-tuya-ri-ê, G. Mông-mút-xô… nhà dân chủ Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành.
Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây; vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển, làm cơ sở quan trọng cho việc tiếp thu, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin - bước ngoặc trong tư tưởng cách mạng nói chung và tư tưởng dân chủ nói riêng của Hồ Chí Minh.