Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 60 năm xây dựng nhà nước kiểu mới và hơn 16 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, việc thực thi dân chủ tại cơ sở đã đạt nhiều bước tiến vượt bậc. Tuy nhiên, sau 6 năm triển khai Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, thực tiễn tại nhiều địa phương vẫn ghi nhận độ trễ nhất định giữa lý luận và thực hành, khi khoảng 15% đến 20% đơn vị cơ sở vẫn biểu hiện tính hình thức. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ bản chất khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, từ đó đánh giá sự vận dụng và thể chế hóa các giá trị này vào việc thực hiện dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ cơ bản: hệ thống hóa những luận điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ; phân tích, đánh giá thực trạng triển khai Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 tại 159 xã, phường, thị trấn thuộc 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bình Định giai đoạn 2007–2013; đồng thời xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị công cấp cơ sở. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận triết học chính trị lẫn thực tiễn xã hội, góp phần nâng tỷ lệ đồng thuận của cử tri tại các cuộc họp thôn xóm lên trên 90%, giảm tỷ lệ khiếu nại vượt cấp xuống dưới 10%, củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai trụ cột lý thuyết nền tảng gồm lý thuyết về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong học thuyết Mác - Lênin và hệ thống quan điểm toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bản chất dân chủ vô sản là quyền lực thuộc về tuyệt đại đa số nhân dân lao động, trong đó chế độ chuyên chính vô sản đóng vai trò bảo vệ quyền làm chủ chính đáng ấy. Kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết bản chất của dân chủ qua mệnh đề cốt lõi: dân là chủ và dân làm chủ, khẳng định dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân và là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự liên kết 3 cấp độ: Tư tưởng triết học chính trị Hồ Chí Minh – Quá trình thể chế hóa pháp luật thông qua Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 – Thực tiễn vận hành hệ thống chính trị cơ sở tại tỉnh Bình Định. Các khái niệm trung tâm bao gồm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa, Quy chế dân chủ cơ sở, Dân vận khéo, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cùng phương châm hành động dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra xã hội học với cỡ mẫu 350 phiếu khảo sát, phân bổ ngẫu nhiên theo phương pháp chọn mẫu phân tầng tại 11 huyện, thị xã, thành phố đại diện cho cả ba vùng sinh thái: đồng bằng, duyên hải và trung du miền núi của tỉnh Bình Định. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện 45 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã và người dân địa phương. Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ 12 báo cáo định kỳ giai đoạn 2007–2013 của Ban Chỉ đạo Quy chế dân chủ Tỉnh ủy Bình Định, Sở Nội vụ và hệ thống văn bản pháp quy liên quan.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp kết hợp logic và lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh đối chiếu. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu vừa phải bảo đảm tính liên tục lịch sử trong dòng chảy tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phải lượng hóa chính xác các biến số thực tiễn tại cơ sở, bảo đảm kết quả đánh giá mang tính khách quan và khoa học cao. Thời gian nghiên cứu và tổng kết thực tiễn tập trung xuyên suốt từ năm 2007 đến năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực tế tại 159 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2007–2013 đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, về nội dung công khai để dân biết, 100% các xã, phường, thị trấn đã niêm yết công khai thủ tục hành chính tại trụ sở Ủy ban nhân dân; khoảng 88,5% đơn vị thực hiện công khai dự toán thu chi ngân sách và các dự án quy hoạch sử dụng đất thông qua hệ thống truyền thanh và nhà văn hóa thôn, tăng 32% so với giai đoạn trước khi có Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11.

Thứ hai, về quyền dân bàn và quyết định trực tiếp, tỷ lệ cử tri đại diện hộ gia đình tham gia các cuộc họp bàn về mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt bình quân 82,5%. Trong đó, 91,2% các cuộc biểu quyết bầu trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố và thành viên Ban Thanh tra nhân dân đạt tỷ lệ đồng thuận trên 50% số phiếu hợp lệ theo đúng quy định.

Thứ ba, về hoạt động giám sát cộng đồng, toàn tỉnh đã thành lập 159 Ban Thanh tra nhân dân và 159 Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Các ban này đã tiến hành giám sát trên 650 công trình phúc lợi dân sinh, qua đó phát hiện, kiến nghị khắc phục sai phạm về chất lượng và tiến độ tại khoảng 12,3% số công trình được kiểm tra.

Thứ tư, về hiệu quả giải quyết khiếu nại, tỷ lệ tiếp nhận và giải quyết dứt điểm các tranh chấp, khiếu kiện đất đai ngay tại cấp xã đạt 78,4%, giúp giảm hơn 65% số lượng đơn thư khiếu nại đông người vượt cấp lên cơ quan cấp tỉnh.

Thảo luận kết quả

Các kết quả khảo sát định lượng có thể được trình bày trực quan thông qua bảng so sánh tỷ lệ tham gia của cử tri giữa các vùng sinh thái và biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa mức độ công khai ngân sách với tỷ lệ hoàn thành công trình phúc lợi. Dữ liệu chứng minh rằng những địa phương có chỉ số công khai minh bạch cao luôn đạt tiến độ huy động vốn nhanh hơn 25% đến 30% so với mức bình quân chung.

Nguyên nhân của những thành quả trên xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy Đảng và nỗ lực đổi mới phương thức quản lý theo hướng gần dân, trọng dân của chính quyền địa phương. Ngược lại, một số hạn chế mang tính hình thức tồn tại ở khoảng 15% địa bàn miền núi chủ yếu do trình độ dân trí chưa đồng đều, công tác tuyên truyền còn đơn điệu và kinh phí hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân còn eo hẹp, chỉ đạt dưới 5 triệu đồng mỗi năm cho một đơn vị. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trước đây về thể chế dân chủ làng xã, đồng thời minh chứng sinh động cho chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực thi dân chủ cơ sở tại tỉnh Bình Định:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và năng lực thực hành dân chủ cho cán bộ và nhân dân. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp cùng Trường Chính trị tỉnh Bình Định chủ trì tổ chức 100% các lớp bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận, phấn đấu nâng tỷ lệ người dân hiểu rõ các nội dung của Pháp lệnh số 34 lên trên 85% trong khung thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.

Thứ hai, củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp cơ sở. Cấp ủy các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo chuẩn hóa quy trình tiếp công dân, phấn đấu tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh trên 80%, giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng thời hạn luật định đạt trên 95% hàng năm trong giai đoạn 2014–2020.

Thứ ba, gắn kết việc thực hiện dân chủ với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế địa phương. Ban Chỉ đạo nông thôn mới các cấp bảo đảm 100% dự án có nguồn vốn huy động từ nhân dân phải được cộng đồng giám sát độc lập, công khai tài chính định kỳ 6 tháng một lần theo lộ trình 2015–2020.

Thứ tư, chuẩn hóa và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã. Sở Nội vụ tỉnh Bình Định phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 11 huyện triển khai đề án bồi dưỡng, bảo đảm 90% cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã có trình độ chuyên môn đại học và lý luận chính trị trung cấp trở lên, hoàn thành trước năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Nhóm thứ nhất là đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo tại 159 xã, phường, thị trấn. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình tổ chức họp dân, kỹ năng công khai minh bạch tài chính và phương pháp hòa giải tranh chấp cơ sở nhằm nâng cao chỉ số hài lòng của nhân dân lên trên 90%.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Xây dựng Đảng, Chính trị học và Quản lý công. Tài liệu mang lại khung lý luận chuẩn xác về sự chuyển hóa từ tư tưởng Hồ Chí Minh sang các định chế pháp lý cụ thể trong giai đoạn đổi mới.

Nhóm thứ ba là cán bộ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp. Đề tài hỗ trợ các kỹ năng thực tế về vận hành Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng và kỹ năng tổ chức phản biện xã hội.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước, Sở Nội vụ và các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh. Bộ dữ liệu khảo sát từ 350 mẫu là cơ sở thực chứng giá trị giúp tham mưu, ban hành các quy chế phối hợp và hoàn thiện chính sách dân chủ địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ ở cơ sở là gì? Tư tưởng Hồ Chí Minh xác định dân chủ là quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, thể hiện qua nguyên tắc dân là chủ và dân làm chủ. Ở cấp cơ sở, quyền lực này được hiện thực hóa thông qua việc tôn trọng nhân cách của người dân, phát huy năng lực sáng tạo của quần chúng và bảo đảm phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong mọi hoạt động quản lý.

Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 đã thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào? Văn bản đã luật hóa toàn diện 4 nhóm quyền dân chủ trực tiếp: các nội dung bắt buộc chính quyền phải công khai để dân biết, những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, những vấn đề nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan thẩm quyền phê duyệt và các lĩnh vực thuộc quyền giám sát của nhân dân.

Tỷ lệ biểu quyết nào bảo đảm giá trị pháp lý khi nhân dân bàn bạc tại thôn, tổ dân phố? Theo quy định tại Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, các quyết định về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc hương ước, quy ước cộng đồng chỉ có giá trị thi hành khi được trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thông qua hình thức biểu quyết hoặc phát phiếu lấy ý kiến.

Thực trạng hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân tại tỉnh Bình Định đạt hiệu quả ra sao? Cả 159 đơn vị cấp xã tại tỉnh Bình Định đều thành lập Ban Thanh tra nhân dân. Trong giai đoạn 2007–2013, các ban đã tham gia giám sát trên 650 công trình, phát hiện sai sót tại khoảng 12,3% số dự án, góp phần bảo vệ tài sản công và quyền lợi hợp pháp của hơn 80% hộ dân tại các vùng dự án.

Vì sao cần gắn việc thực hiện dân chủ với Chương trình xây dựng nông thôn mới? Việc thực hiện dân chủ công khai giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm, từ đó tự nguyện đóng góp nguồn lực đất đai, ngày công và tiền của. Thực tế tại Bình Định cho thấy các xã thực hiện tốt quy chế dân chủ đạt tiến độ hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới nhanh hơn khoảng 30% so với các địa phương khác.

Kết luận

Nghiên cứu đã đúc kết 5 đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng:

  • Hệ thống hóa sâu sắc bản chất nhân văn và tính pháp lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực thi Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 tại 159 xã, phường, thị trấn tỉnh Bình Định với bộ dữ liệu thực chứng từ 350 phiếu khảo sát.
  • Phân tích rõ nguyên nhân của những tồn tại mang tính hình thức tại 15% đến 20% đơn vị cơ sở nhằm tìm ra điểm nghẽn quản trị địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với các mục tiêu định lượng cụ thể giai đoạn 2014–2020.
  • Định hướng lộ trình gắn kết việc thực hành dân chủ với tiến trình xây dựng nông thôn mới và hiện đại hóa nền hành chính công.

Công trình khẳng định việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực quyết định cho sự phát triển bền vững. Các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và cán bộ cơ sở hãy tích cực khai thác những bài học kinh nghiệm và mô hình giải pháp từ luận văn để tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng dân chủ tại địa phương mình.