Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ 1.1 Bối cảnh ra đời tư tưởng đạo đức của Khổng Tử 1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc là quốc gia có lịch sử lâu đời, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Nhiều tài liệu lịch sử cho rằng, trước khi xuất hiện nhà nước đầu tiên thì Trung Hoa đã trải qua thời kì xã hội công xã nguyên thủy với các truyền thuyết về thời Tam Hoàng, Ngũ Đế. Giai đoạn này mọi người sống trong xã hội không có giai cấp, không có bóc lột, mọi tài sản đều là của chung. Bước sang nhà Hạ (2205 – 1766 TCN) - nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên của Trung Quốc ra đời.
Giai cấp chủ nô đã đề ra các chính sách, cách thức cai trị để bảo vệ, duy trì địa vị thống trị của mình. Giai cấp thống trị thi hành chính sách thế tập, cha truyền con nối và sử dụng tư tưởng thiên mệnh để phục vụ mục đích ấy. Trải qua quá trình phát triển, đến khoảng thế kỉ thứ XVII TCN, Thành Thang đứng đầu nhà Thương lật đổ vua Kiệt – vị vua cuối cùng của nhà Hạ, lập ra nhà Thương đặt đô ở đất Bạc (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ). Khoảng thế kỉ XIV TCN, vua Bàn Canh nhà Thương dời đô về đất Ân, đổi tên thành nhà Ân.
Khoảng thế kỷ XII TCN, bộ tộc Chu nổi lên ở khu vực sông Vị thuộc tỉnh Thiểm Tây ra sức phát triển về kinh tế và lực lượng để chinh phục các bộ tộc lân cận. Trong khi đó, nội bộ nhà Ân - Thương ngày càng mâu thuẫn gay gắt, nhiều chư hầu nổi dậy phản kháng. Vua cuối cùng của nhà Ân là Đế Tân, hiệu là Trụ. Tới khoảng thế kỷ XI TCN, con Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương nổi dậy diệt vua Trụ nhà Ân, lập ra nhà Chu đóng đô tại Hạo Kinh, phía Tây thành Tây An ngày nay.
Lịch sử gọi đây là thời Tây Chu. Dưới thời 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tây Chu, chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc lên đến giai đoạn phát triển cao. Vua tự phong là thiên tử, mọi quyền hành, đất đai, nhân dân đều thuộc về nhà vua. Đến thế kỷ VIII TCN, cuối thời Tây Chu, xã hội Trung Quốc bắt đầu khủng hoảng.
Thời kì này, địa vị và uy quyền nhà Chu suy yếu, mệnh lệnh nhà vua không ai theo, chế độ tông pháp dần dần bị xóa bỏ, các nước chư hầu phân rã. Đây là thời kì quá độ từ sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ hình thành. Thời kì Tây Chu đến đây kết thúc. Năm 771 TCN, Chu Bình Vương dời đô về phía Đông đến Lạc Ấp (Bạc Dương, Hà Nam bây giờ) - thời kì Đông Chu bắt đầu.
Lúc này, xã hội Trung Quốc bước vào thời Xuân Thu (từ 770 – 403 TCN) và thời Chiến Quốc (từ 403 – 221 TCN). Trong khi uy quyền và thế lực Đông Chu ngày càng giảm sút, suy yếu thì thế lực của một số nước chư hầu ngày càng lớn mạnh. Đây cũng là thời kì đã diễn ra các cuộc chiến tranh liên miên giữa các nước chư hầu để giành quyền bá chủ, tiến tới tiêu diệt lẫn nhau để thống nhất đất nước. Chính trong thời kì này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng, học thuyết trong đó tiêu biểu là học thuyết đạo đức của Khổng Tử.
Thời Xuân Thu – Chiến Quốc diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị - xã hội. Tình hình kinh tế: Với tư cách là một hình thái tư tưởng, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử nảy sinh và tồn tại trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong lĩnh vực kinh tế, thời Xuân Thu – Chiến Quốc có bước phát triển mạnh mẽ cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp được thể hiện ở các mặt sau: Trong nông nghiệp: Ở thời nhà Hạ, Thương thì công cụ sản xuất chủ yếu bằng đồng như cuốc, xẻng, dao, búa…Sang thời Xuân Thu, bên cạnh đồng thau vẫn được sử dụng phổ biến thì đồ sắt đã bắt đầu xuất hiện. Một số tài liệu có ghi rằng: “Ở nước Tề vào nửa đầu thế kỉ thứ VII TCN, Quản Trọng đã đề nghị với Tề Hoàn Công: kim loại đẹp để đúc gươm giáo dùng chém chó ngựa, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kim loại xấu dùng để đúc cuốc dao dùng xới đất”.
Có lẽ “kim loại đẹp” ở đây là đồng thau, “kim loại xấu” là sắt [69, tr. Hay trong sách Quốc ngữ viết: “Đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân …” [Dẫn theo: 17, tr. Sự xuất hiện và sử dụng khá phổ biến công cụ bằng sắt đánh dấu bước chuyển lớn trong lĩnh vực kinh tế Trung Quốc. Đến thời Chiến Quốc, công cụ bằng sắt được sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất.
Có tài liệu khảo cổ học ghi rằng: trong một ngôi mộ thời Chiến Quốc có “hơn 90 công cụ sản xuất gồm cày, các loại cuốc, xẻng, liềm, dao… và hơn 70 binh khí bằng sắt” [69, tr. Trong xã hội Trung Quốc, sự tiến bộ của công cụ lao động đồ sắt thay thế đồ đồng và được người Trung Quốc sử dụng rộng rãi thì họ còn biết sử dụng sức kéo bằng súc vật, như sách Quốc ngữ có chép: “Những súc vật làm đồ hiến tế ở đền miếu có thể dùng trong công việc đồng áng” [Dẫn theo: 69, tr. Nhờ những cải tiến, phát triển công cụ sản xuất nên sản xuất nông nghiệp ngày càng được phát triển. Việc dùng sức kéo thay cho sức người, kỹ thuật trồng trọt được cải tiến.
Người dân Trung Quốc đã biết xây dựng các công trình thủy lợi lớn. Các công trình này không những có tác dụng tưới tiêu đồng ruộng xanh tốt mà còn hạn chế nạn lũ lụt, có vai trò quan trọng đối với giao thông vận tải từ Hoàng Hà đến Trường Giang. Ở thời Xuân Thu – Chiến Quốc, nhờ những tiến bộ về công cụ sản xuất, kĩ thuật sản xuất, nhất là việc dùng cày có lưỡi bằng kim loại do súc vật kéo cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi nên nông dân Trung Quốc càng có điều kiện khai khẩn đất hoang, thực hiện thâm canh tăng năng suất. Do đó, sản lượng nông nghiệp tăng lên rất nhiều.
Những nhà quý tộc có địa vị và quyền thế chiếm hữu dần ruộng đất của công thành của riêng, từ đây chế độ tỉnh điền tan rã, thay thế bằng chế độ tư hữu về ruộng đất. Thủ công nghiệp: Bên cạnh sự phát triển trong nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng có bước phát triển mạnh mẽ. Dưới thời Thương và Tây Chu, đồ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng được sử dụng rộng rãi chủ yếu để đúc đỉnh. Sang thời Xuân Thu, nghề đúc đồng thau có những cải tiến rõ rệt, hình dáng thanh thoát, trang trí đẹp mắt.
Ngoài chuông, đỉnh, đồ uống rượu, trong thời kì này còn có một số sản phẩm mới như kiếm ngắn, gươm đồng. Bên cạnh nghề làm đồng thau, các nghề thủ công khác như đồ gốm, đồ đá, đồ ngọc, đồ da, đồ gỗ đạt đến trình độ khá cao. Sang thời Chiến quốc, nghề thủ công mới ra đời là nghề luyện sắt và kĩ thuật tiến bộ rất nhanh. Người Trung Quốc không chỉ biết kĩ thuật rèn mà còn cả kĩ thuật đúc, họ luyện được cả gang, thép.
Nhà nước trực tiếp quản lí và tổ chức thành các xưởng khác nhau để tổ chức sản xuất. Những bộ phận này đã cung cấp các loại đồ dùng hàng ngày cho quần chúng nhân dân. Thương nghiệp: Sự phát triển của các ngành sản xuất làm cho việc trao đổi, buôn bán cũng phát triển. Trước kia, thời Thương và Tây Chu, các sản phẩm được đem ra trao đổi chủ yếu là súc vật, nô lệ.
Sang thời Xuân Thu, hoạt động thương nghiệp phát triển hơn trước, hình thành các trung tâm buôn bán giữa các nước chư hầu. Thời Chiến Quốc, nhiều mặt hàng về nông sản, hải sản, sản phẩm nghề chăn nuôi, thủ công được trao đổi trên thị trường. Trong xã hội xuất hiện những thương nhân lớn có số vốn lên đến hàng vạn lạng vàng. Tiền tệ bằng kim loại ra đời, vai trò của tiền tệ ngày càng phát triển.
Cuối thời Xuân Thu – Chiến Quốc số lượng tiền bằng đồng được đúc ra ngày càng nhiều, thời Chiến Quốc còn dùng vàng để làm tiền tệ. Cùng với sự phát triển của thương nghiệp, Trung Quốc xuất hiện các trung tâm buôn bán, trao đổi hàng hoá rất hưng thịnh: nhiều thành thị, khu thương nghiệp buôn bán nhộn nhịp ở Hán, Sở, Tề … Trong xã hội bắt đầu hình thành tầng lớp thương nhân giàu có, thế lực ngày càng mạnh. Có thể nói, kinh tế Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc có bước phát triển mạnh mẽ, trong đó nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có bước phát triển đến mức độ nhất định. Mặt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác, nền kinh tế ở Trung Quốc thời cổ - trung đại chủ yếu là nền kinh tế tự túc, tự cấp song về cơ bản, các ngành kinh tế đều có bước phát triển rõ rệt.
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội: Thời Tây Chu vì ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước cho nên không được mua bán. Nhưng đến thời Xuân Thu, hiện tượng mua bán ruộng đất xuất hiện. Đây là kết quả tất yếu của chế độ ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân, đồng thời thúc đẩy ruộng đất tư phát triển nhanh chóng. Ruộng đất ngày càng tập trung vào trong tay địa chủ lớn, nông dân nhiều người bị mất ruộng đất: “Nhà giàu ruộng liền bờ bát ngát, người nghèo không có tấc đất cắm dùi”[69, tr.
Lúc này, trong xã hội xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp mới làm cho mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ngày càng gay gắt. Trong xã hội phân chia thành bốn thành phần chủ yếu: giai cấp thống trị, giai cấp nông dân, tầng lớp công thương, giai cấp nô lệ. Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc rất rối ren, mọi quyền hành của nhà vua không ai phục tùng, mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với giai cấp nông dân; mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc mới với tầng lớp quý tộc cũ; trong nội bộ giai cấp quý tộc xuất hiện mâu thuẫn giữa các phe phái nhằm tranh giành quyền thống trị.