Chương 1: Hoàn cảnh ra đời, kết cấu và nội dung khái quát của sách Luận ngữ và sách Mạnh tử, với 3 tiết. Chương 2: Nội dung của vấn đề tu thân trong Nho giáo Khổng – Mạnh (qua sách Luận ngữ và sách Mạnh tử), với 4 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI, KẾT CẤU VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁCH LUẬN NGỮ VÀ SÁCH MẠNH TỬ 1. Hoàn cảnh ra đời của sách Luận ngữ và sách Mạnh tử Theo nhiều nguồn sử liệu, vào năm 770TCN, do bị các thế lực phía Tây là Nhung và Địch tấn công, vua Tây Chu là Chu Bình Vương buộc phải rời đô sang Lạc Ấp ở phía Đông, bắt đầu giai đoạn thứ hai của nhà Chu là Đông Chu.
Giai đoạn Đông Chu tương ứng với hai thời kỳ là Xuân Thu (722 – 479TCN) và Chiến Quốc (478 – 221TCN). Sự phân chia này chỉ dựa trên một bộ sử biên niên của Khổng tử là bộ Xuân Thu. Bộ sách này chép sử nước Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ Ân Công (721TCN) đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công (481TCN). Chữ Xuân Thu mới đầu chỉ một năm, rồi chỉ những bộ sử chép từng năm (vì vậy mà ngoài bộ Xuân Thu của Khổng Tử còn nhiều bộ sử khác như của Tả Khâu Minh, Công Dương, Cốc Lương… cũng gọi là Xuân Thu).
Nhưng nhiều học giả cho rằng, năm 721TCN và năm 481TCN không đánh dấu một biến cố lớn lao nào trong lịch sử nên đã chia lại như sau: Thời Xuân Thu từ 770 – 403TCN, bắt đầu từ đời Chu Bình Vương đến cuối đời Chu Uy liệt vương. Thời Chiến Quốc từ 403 – 221TCN, bắt đầu từ đời Chu An Vương đến khi nước Tần diệt được nước Tề và thống nhất Trung Quốc. Thời Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ lịch sử với nhiều biến động, với nhiều chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trong đời sống của con người và xã hội Trung Quốc. Đây là thời kỳ có nhiều sự kiện lịch sử xuất hiện dồn dập, nhiều học thuyết triết học và chính trị - xã hội ra đời, xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, văn hóa tài ba có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử Trung Quốc và lịch sử nhân loại.
Trong các học thuyết đó phải nói đến Nho giáo, trong những nhà tư tưởng ấy phải nói tới Khổng Tử và Mạnh Tử với hai tác phẩm Luận ngữ và Mạnh tử. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu và Chiến Quốc – cở sở ra đời sách Luận ngữ và sách Mạnh tử Ở Trung Quốc, đến thời kỳ Tây Chu (từ thế kỷ XI đến thế kỷ VIII TCN), công cụ sản xuất làm bằng đồng thau đã ra đời và tuy có tiện lợi hơn công cụ lao động bằng gỗ, bằng đá nhưng chưa có nhiều để trở thành thứ công cụ được sử dụng phổ biến trong sản xuất. Trong khi đó, số nhân khẩu tăng nhanh, nhu cầu xã hội đặt ra lúc này là cần phải đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều của cải hơn nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng nhiều hơn cho người dân.
Trước yêu cầu thực tiễn đó, đến đời Đông Chu, với sự xuất hiện và sử dụng khá phổ biến công cụ lao động bằng sắt đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong sản xuất nói riêng và trong lịch sử nền văn minh Trung Hoa nói chung. Việc phát minh đồ sắt đã mang lại những tiến bộ mới trong việc chế tạo, cải tiến và sử dụng công cụ lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Việc dùng trâu, bò, ngựa kéo thay cho sức người đã trở thành phổ biến; kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến. Do đó, diện tích đất canh tác ngày càng được mở rộng, năng suất lao động ngày càng tăng, sức sản xuất (lực lượng sản xuất) ngày càng phát triển.
Nhờ công cụ sản xuất phát triển mà ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều. Tầng lớp quý tộc do có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư. Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã và được thay thế bằng chế độ tư hữu về ruộng đất và chế độ tư hữu này còn được pháp luật Nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến trong sản xuất nông nghiệp và cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy hàng loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm… Đặc biệt, lĩnh vực thương nghiệp rất phát triển với việc hình thành 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều trung tâm thương nghiệp như: Hàm Dương ở nước Tần, Lâm Truy nước Tề, Hàm Đan nước Triệu, … với nhiều nhà buôn có tên tuổi như: Phạm Lãi, Đoan Mộc Tứ, Lã Bất Vi… Trong hoạt động buôn bán, tiền tệ đã xuất hiện, ngoài các thứ tiền đồng mà mỗi miền dùng một kiểu, người ta còn lập đồng tiền chung.
Nhiều người do có nhiều tiền đã mua đất của quý tộc sa sút và sống như các quý tộc. Từ những hoạt động này, trong xã hội đã nảy sinh tầng lớp thương nhân giàu có, mở rộng buôn bán sang nhiều nước và ngày càng trở thành tầng lớp có thế lực lớn trong xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị - xã hội. Đây là thời kỳ mà xã hội Trung quốc có sự đan xen giữa hình thái chiếm hữu nô lệ và hình thái phong kiến.
Do sự suy yếu về kinh tế mà triều đại nhà Chu ngày càng suy sụp, chế độ tông pháp không còn được tôn trọng; các quan hệ về kinh tế, chính trị giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được coi trọng. Hệ quả tất yếu dẫn đến là, làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc, đó là thời Xuân Thu. Thời Xuân Thu như có nhà nghiên cứu đã khẳng định, là “triều đại nhà Chu từ đầu Đông Chu đến đây là hết hẳn. Tình trạng xen kẽ lẫn nhau giữa các hình thái chiếm hữu nô lệ cứ lùi dần và hình thái phong kiến cát cứ mới nảy sinh với xu thế hướng tới tập quyền ngày càng mạnh mẽ cũng chấm dứt” [17, tr.
Vua nhiều nước chư hầu đã bằng mọi cách, mọi thủ đoạn giành giật địa vị bá chủ thiên hạ, gây chiến tranh để xâm lược, trừng phạt lẫn nhau. Tình hình đó càng làm cho mâu thuẫn vốn có trong xã hội và các mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, sự rối loạn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng lễ, nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi, “chư hầu lấn quyền thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội rất là rối loạn” [1, tr.25-26] diễn ra ở nhiều nơi, thể chế nhà Chu bị vi phạm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, là tình trạng trên yếu dưới mạnh, do tầng lớp địa chủ mới lên ngày càng giàu có, lấn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com át quý tộc cũ, “thậm chí tầng lớp này còn chiếm đoạt cả chính quyền như họ Quý thị ở nước Lỗ, họ Trần ở nước Tề” [63, tr.
Cuối thời Xuân Thu, chiến tranh ngày càng ác liệt, các nước nhỏ bị nước lớn tiêu diệt. Sang thời kỳ Chiến Quốc, Trung Quốc lúc này chỉ còn lại bảy nước mạnh tranh giành nhau (gọi là thất hùng), gồm có các nước: Tần, Sở, Tề, Hàn, Triệu, Ngụy và Yên. Chiến tranh tàn khốc trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn. Mâu thuẫn giữa các giai cấp và những mâu thuẫn xã hội khác ngày càng gay gắt hơn đã làm cho xã hội ngày thêm rối loạn và nguy cơ diệt vong.
Điều đó chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên họ đã tiến hành một số biện pháp cải cách nhằm loại trừ tình trạng rối loạn và ngăn chặn nguy cơ ấy. Đó là phong trào “biến pháp” ở một loạt nước như nước Ngụy, nước Triệu, nước Hàn, nước Tề, nước Tần… suốt thời Chiến quốc. Tình trạng rối loạn xã hội, sự đảo lộn các quan hệ xã hội và chiến tranh liên miên ở nhiều nơi là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện nhiều cuộc bạo động, khởi nghĩa của người nông dân chống lại chế độ nhà Chu. Mặt khác, “sự rối loạn trật tự xã hội đã tạo ra một tình trạng phi nhân tính, vô đạo đang thống trị cả xã hội, làm cho các mối quan hệ xã hội bị biến dạng ghê gớm” [6, tr.
Tất cả đã tạo ra một hợp lực đẩy nhà Chu đến bờ vực diệt vong. Trước một thực trạng xã hội hết sức rối loạn về chính trị như vậy, thì một vấn đề cấp bách được đặt ra là, cách thức tổ chức, quản lý như mô hình nhà Chu không còn phù hợp nữa, và phải làm thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương cho xã hội, làm cho xã hội ổn định, phát triển. Và điều quan trọng hơn là, phải lựa chọn mô hình xã hội nào cho phù hợp với tình hình Trung Quốc thời bấy giờ để đất nước thoát ra khỏi tình trạng hỗn loạn để phát triển. Rõ ràng, đây không chỉ là một vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách mà còn là câu hỏi lớn và nỗi băn khoăn cho thời đại, cho mọi tầng lớp người.
Đó còn là nội dung chủ yếu trong đời sống tư tưởng chính trị - xã hội của Trung Quốc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời bấy giờ. Sự ra đời của nhiều học phái, nhiều học thuyết đã phản ánh địa vị và lập trường giai cấp rất rõ là, mỗi một học thuyết lại bảo vệ lợi ích của giai cấp, của tầng lớp mình mà phê phán (cải tạo hay xóa bỏ) trật tự xã hội cũ. Tình trạng ấy đã tạo nên cục diện “Bách gia tranh minh”, “Bách gia chư tử” mà kết cục là đã tạo ra được nhiều tầng lớp kẻ sĩ, nhiều tư tưởng khác nhau, thậm chí đối lập nhau ở Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Sự ra đời tư tưởng Khổng – Mạnh cũng trong bối cảnh ấy.