phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết. Chƣơng 1: Bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề hình thành tƣ tƣởng của Khổng Tử và sách Luận ngữ (2 tiết). Chƣơng 2: Một số nội dung chủ yếu trong tƣ tƣởng của Khổng Tử qua sách Luận ngữ (4 tiết). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CỦA KHỔNG TỬ QUA SÁCH LUẬN NGỮ 1.
Hoàn cảnh ra đời 1. Tình hình kinh tế - xã hội thời Xuân Thu Khi nghiên cứu tư tưởng của bất cứ nhà tư tưởng hay triết gia nào đều phải dựa vào tình hình kinh tế và chính trị của thời đại đã hình thành và chi phối tư tưởng đó. Theo nhiều nguồn tư liệu và tài liệu lịch sử khác nhau cho thấy, thời đại mà Khổng Tử sống là thời kỳ xã hội Trung Quốc có nhiều biến đổi sâu sắc trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Trong lĩnh vực kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt.
Nghề luyện sắt và kỹ thuật luyện sắt ngày càng phát triển. Sự tiến bộ trong ngành luyện sắt đã th c đẩy sự phát triển hơn nữa lĩnh vực thủ công nghiệp và nông nghiệp. Đồ chạm vàng và dát bạc, hàng lụa và đồ sơn là những sản phẩm thủ công đạt tới trình độ tinh xảo nhất. Các thành phố lớn đều tự chế tạo ra tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi và phát triển thương nghiệp.
Thương nhân ở các thành thị còn có nghề cho vay nặng lãi, tích trữ đầu cơ, nuôi rất nhiều nô lệ để vận chuyển hàng hóa. Những thương nhân lớn có thế lực về kinh tế thường có nhiều tham vọng về chính trị, muốn dựa vào sức mạnh kinh tế và tiền tài để mưu đoạt và kh ng định quyền lực chính trị của mình. Nhiều thương nhân kết giao với chư hầu và công khanh đại phu để tác động và ảnh hưởng đến đời sống chính trị đương thời. Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, đi lại khó khăn nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương.
Hơn nữa, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất (theo quan điểm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “nông vi bản, thương vi mạt”), nên nó cũng chưa thực sự phát triển. Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới, đó là tầng lớp thương nhân. Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ. Thu lợi và canh tác nông nghiệp ở các nước đều dần dần phát triển.
Diện tích đất đai canh tác ngày càng được mở rộng. Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất trong nông nghiệp. Công xã giao h n đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài. Vì thế, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng.
Nhân dân dọc sông Hoàng Hà đắp hàng nghìn dặm đê dọc theo sông. Nhân dân các nước Sở, Tề, Ngụy đều đào mương, thông ngòi với các con sông lớn, hình thành một hệ thống tưới tiêu và mạng lưới giao thông đường thu rất thuận lợi. Nhưng tình trạng mâu thuẫn và chiến tranh giữa các nước đã làm cho công cuộc thu lợi chưa phát huy hết tác dụng của nó. Thậm chí có nhiều lần, để đối phó với các thế lực thù địch, nhiều nước đã sử dụng cả biện pháp phá đê hoặc ngăn sông, ngăn đập để gây lũ lụt, hạn hán cho đối phương.
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội: Thời kỳ Xuân Thu là giai đoạn chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ (với các sứ quan cát cứ khắp nơi) sang giai đoạn hình thành quốc gia phong kiến tập quyền. Nhà Chu bị phân rã làm 7 quốc gia khác nhau : Tần, Sở, Tề, Ngụy, Hàn, Triệu, Yên. Tần Thu Hoàng - vua nước Tần đã tiêu diệt 6 nước, thống nhất giang sơn hình thành nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên. Dưới thời thịnh vượng của nhà Chu, đất đai thuộc về nhà vua thì nay quyền sở hữu tối cao về đất đai ấy bị một tầng lớp mới, tầng lớp địa chủ chiếm làm tư hữu.
Một sự phân hoá sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội l c này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Chiến tranh giữa các nước ngày càng nhiều hơn và khốc liệt hơn đã phá hoại nghiêm trọng sức sản xuất xã hội thời đó.
Nhân dân phải chịu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mọi tai họa nặng nề từ thực trạng ấy nên họ luôn khao khát một cuộc sống hoà bình, yên ổn. Thời Xuân Thu, các lãnh ch a càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động. Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề. Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ.
Dân phải sống lưu vong, đồng trong ruộng ngoài bỏ hoang. Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh ch a bóc lột tàn khốc dân ch ng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng gia tăng. Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến l c này cũng bị xem thường. Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân Thu biểu hiện qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu.
Cùng với nạn “tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các chư hầu tự ý phá bỏ. Thậm chí các nước lớn còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và lệ thuộc vào mình. Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn “phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da th , mà một trăm xe thì phải cả ngàn người”. Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra.
Tình trạng đó, theo Khổng Tử không phải xảy ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu. Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng. Việc “tang viếng, tế lễ, ch c mừng” trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội nữa. Như vậy, đến thời Xuân Thu, cách tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình cũ không còn phù hợp nữa nên cần có một mô hình xã hội mới lý tưởng hơn, đồng thời phải thiết lập lại trật tự, k cương của xã hội và đưa xã hội vào thế ổn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đó cũng là một nội dung chủ yếu trong đời sống tư tưởng, chính trị của xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, đã ảnh hưởng tới sự hình thành tư tưởng của Khổng Tử nói riêng của Nho giáo nói chung. Vài nét về Khổng Tử và sách “Luận ngữ” 1. Khổng Tử lược sử Ông tổ ba đời của Khổng Tử vốn gốc người nước Tống (Hà Nam), dời sang nước Lỗ (Sơn Đông). Thân phụ của Khổng Tử tên là Th c Lương Ngột, làm quan võ, lấy bà vợ trước sinh được 9 người con gái.
Bà vợ lẽ sinh được một người con trai có tật ở chân, đặt tên là Mạnh Bì. Khi đã về già, ông Th c Lương Ngột mới lấy bà Nhan Thị và sinh ra Khổng Tử, vào mùa đông, tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu, tức năm 551 TCN. Chuyện kể rằng bà Nhan Thị có lên n i Ni Khâu để cầu tự, vì thế khi sinh ra, Khổng Tử được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Có sách lại chép rằng Khổng Tử có tên là Khâu vì trán cao và gồ lên như cái gò, vì khâu theo ý nghĩa chữ Trung Hoa là cái gò.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, trước khi Khổng Tử chào đời, bà Nhan Thị đã thấy một con kỳ lân nhả ra tờ ngọc thư trên đó có viết “Thủy tinh chi tử, kế suy Chu vi tố vương” (con của Vua Thủy tinh, nối tiếp nhà Chu đã suy vi để làm Vua không ngai). Bà Nhan Thị bèn lấy dây lụa, buộc sừng con kỳ lân. Vài ngày sau, con kỳ lân biến mất. Khi Khổng Tử lên 3 tuổi, thân phụ mất.
Sách sử không nói rõ về tuổi trẻ của Khổng Tử mà chỉ ghi rằng, phu tử hay cùng các bạn nhỏ tuổi bày đồ c ng tế, một điều tỏ rõ bản tính quý trọng các điều lễ nghĩa. Năm 19 tuổi, Khổng Tử lập gia đình và sau đó nhậm chức Ủy Lại với công việc là cai quản việc đong thóc ở kho, sau lại làm “Tu chức lại” coi việc nuôi bò, dê để dùng vào việc c ng tế. Vào l c này, Khổng Tử đã nổi tiếng là một người tài giỏi vì vậy một vị quan nước Lỗ tên là Trọng Tôn Cồ đã cho hai người con là Hà Kỵ và Nam Cung Quát theo học ông. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khổng Tử nghiên cứu về Nho thuật nên rất ch ý đến các lễ nghi và phép tắc của các bậc đế vương đời trước và muốn tìm hiểu các bản văn, tài liệu, hình tượng liên hệ, thời đó đang được lưu trữ tại Lạc Dương là kinh đô của nhà Chu.
Năm 28 hay 29 tuổi, Khổng Tử muốn đi Lạc Dương nhưng vì đường xa, lộ phí quá cao nên đã không thể đi được.