mở đầu hệ hình mới sau đó. Tuy rằng, văn chương Trúc Khê còn nhiều luyến lưu và có liên quan khó dứt hẳn với hệ hình cũ. Có thể thấy, trong đội ngũ các nhà thơ, nhà văn hiện đại là chủ nhân thực sự của hệ hình văn học thứ hai chủ yếu “ra đời trong khoảng những năm 1910-1920” [36; 302] thì với thời điểm được sinh vào năm 1901, Trúc Khê nằm ở chính giữa của chuyển nối từ Tản Đà sang các tác giả hiện đại về sau. Văn tài không theo tuổi, nhưng các nhà văn sống ở giữa đoạn giao thời đang hiện đại hóa với tốc độ lớn, thì việc chênh nhau một thập niên sinh thành rất quan trọng.
Trong lòng các đô thị mới xuất hiện, một lớp công chức mới hình thành. Báo chí sách vở cũng là một bộ phận không thể thiếu trong xã hội. Sau báo chí tiếng Pháp, các loại báo chí viết bằng chữ quốc ngữ và các hiệu sách (tiền thân của các nhà xuất bản), lần lượt xuất hiện. Hoạt động báo chí cần định kỳ nên tất yếu đòi hỏi cần có những người thường xuyên cung cấp bài vở.
Một guồng máy sản xuất và tiêu thụ văn chương cứ thế hình thành và mở rộng. Như vậy, văn chương lúc này thật đã thoát khỏi tình trạng “tự phát”, “tự cung tự cấp” trong giới nho sĩ xưa, để trở thành một ngành hoạt động xã hội. Sở dĩ chúng tôi bàn về báo chí và xuất bản thời kỳ 1932 – 1945 là vì nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giống các văn sĩ, ký giả cùng thời vì đã làm văn và viết báo “hai trong một”. Trong đó, cũng giống với nhiều bạn cầm bút của mình, ông có được sự năng động của người làm nghề báo và sự sâu sắc của người viết văn.
Thời đó, cái cách tự trào của các nhà Nho đã giúp chính họ và những người tiếp nối bước vào việc hiện đại hóa văn thơ mình bằng nét cười nhập cuộc, bớt gượng gạo. Đặc biệt, họ không hề “hủ nho” như đã có những ý kiến chê bai thiếu thiện chí. Vì thế mà thơ văn trào phúng đã là bộ phận xuất sắc nhất, chín nhất của văn học ba thập niên đầu thế kỷ XX. Nó được viết ra từ chính mấy nhà Nho.
Ấy là khi Nho gia sang thời mới có nhu cầu cười chính mình. Tú Xương cười nhiều nhất đến mức người ta như lãng đi mất ông là nhà thơ trữ tình. Tản Đà thì mặc dù vẫn làm thơ trữ tình là chính song ông cũng có phen tự cười: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng. Xuất thân trong gia đình nhà Nho, Nguyễn Công Hoan có cách sắp xếp giải quyết riêng cụ thể: ông coi con người chân thật của ông là con người thơ.
Còn cái người viết văn xuôi là phần bỏ đi… Thế là mỗi người mỗi cách, dù có thừa nhận hay lảng tránh nhưng đều tránh nếp quen cũ, đi tìm mình trong một bến bờ mới. Thực tế tính tổ chức vốn không phải là mặt mạnh của xã hội bấy giờ, càng không phải mặt mạnh của văn học Việt Nam. Bởi trừ nhóm Tự lực văn đoàn thì hầu như không có một sự chung lòng đồng thời với nhau hoặc “bàn giao” để người sau tiếp, song trong sáng tác vẫn như là người này có sự hưởng ứng người kia. Như thể tự nhìn nhau mà chuyển đổi, mỗi nhà văn đều phải tự giác nhận tác động của đồng nghiệp và điều chỉnh mình.
Trúc Khê Ngô Văn Triện hướng theo các thơ văn của các Nho gia suốt thời trẻ trai của mình. Đến giữa những năm 20 của thế kỷ trước, ông mới nhận ra việc mình phải có bước tiếp nối, phát triển, chứ không thể chỉ hoài cổ. Và ông đã trăn trở: Trời bắt sinh ra kiếp học trò Học trò sinh phải bước đa lo Lo nhà, lo nước, lo thân thế, Nhà khó, thân hèn, nước rủi ro. Nhà khó, thân hèn, nước rủi ro, Lòng ta trăm mối rối như vò.
Kiếp sau thôi chớ làm người nữa, Làm kiếp chim bằng ta tự do. (Kiếp học trò) Có thể thấy, điều cần chú ý là nhiều nhà Nho đầu thế kỷ ngỡ “cũ” lại đi về phía mới trong xu hướng đi đến dân tộc. Trúc Khê là một nhà Nho thức thời. Ông không coi viết văn kiếm sống là có gì không tốt, vì nhà Nho xưa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường không tham gia vào việc kiếm tiền, thậm chí khinh bỉ việc kiếm tiền là “trục lợi”.
Nhưng Trúc Khê chăm chỉ và năng động dùng ngòi bút kiếm tiền nuôi cả gia đình. Ông thích sự tài tử và tài văn của Tản Đà nhưng ông lại sống theo cách khác. Trúc Khê là người chồng, người cha lo cho cả một gia đình với vợ ốm, con đông. Đến mức khi ông mất, thì cả gia đình ông khốn đốn.
Vì ngoài nỗi đau về tình cảm, cả nhà còn không biết phải lấy gì để sinh sống. Sinh thời, để kiếm tiền, ông viết sách, viết báo, dịch thuật rất nhiều. Nhưng điều có thể thấy ngay là tất cả những gì ông viết ra đều hướng về tinh thần dân tộc. Trúc Khê cũng giống các nhà Nho tiến bộ đương thời quan niệm về tinh thần dân tộc là lòng yêu nước và ý thức góp công vào phát triển, mở mang văn hóa dân tộc.
Ông cũng không bị “hủ nho” mà ông sẵn sang ca ngợi cái hay, sự tiến bộ đến từ bên ngoài. Trong bài “Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930”, PGS.Trần Đình Hượu nhận định rất thấm thía: “Ta cũng chứng kiến việc một số nhà Nho ra thành phố sinh nhai bằng nghề viết văn. Sống ở thành thị và với những người thành thị, bản thân họ cũng thành thị hóa. Họ đưa vào văn học cũ những xúc cảm cá nhân, những cảnh vật, không khí thành thị và vì nghề nghiệp viết văn bán cho công chúng họ đã ra công khai thác tất cả những kinh nghiệm sáng tác trong ca dao dân ca và các truyện Nôm của các nhà nho tài tử thế kỷ trước, tìm những cái gì thích hợp để nói về cuộc sống mới, con người mới ở thành thị.
Họ cũng mang vào lịch sử văn học dân tộc những cách tân đáng kể về nội dung, nghệ thuật và quan niệm văn học” [7; 437]. Trúc Khê Ngô Văn Triện là một trong những trường hợp có thể hội tụ thành nhận xét trên của nhà nghiên cứu. Song ở Trúc Khê cũng có những nét riêng biệt có thể đi sâu tìm hiểu thêm. Xin được trở lại với nhóm Tự lực văn đoàn.
Nhóm này hoạt động văn học một cách chuyên nghiệp và rất thành công. Trong đó phải kể đến đóng góp của Nhất Linh. Lịch sử văn hóa Nhật Bản xác nhận là người Nhật cũ mê văn hoá Trung quốc quá thường cử người sang tận nơi để học, học lấy bằng, tức biết làm đúng như người Trung Quốc rồi mới về làm theo cách của 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chúng ta cũng không quên rằng trước khi qua Pháp, Nhất Linh đã viết cho Nam Phong và đã có Người quay tơ, Nho phong.
Cái khác của một tờ Nam Phong so với báo chí đương thời ở chỗ đây là loại tạp chí, không đi vào tin tức thời sự mà đi sâu vào biên khảo. Vậy là, Nhất Linh là một trong số ít người làm việc một cách có ý thức: ý thức từ bỏ (tức là dù đã có một sự nghiệp rồi vẫn bỏ sự nghiệp đó mà đi) và ý thức tiếp nhận nên đã sang Pháp. Cứ như vậy, cái mới và tính chuyên nghiệp tràn vào. Có thể thấy văn học thời kỳ này chuyển đổi rõ nhất là ở thơ.
Chưa bao giờ ở Việt Nam, văn học được “xã hội hoá” rộng rãi như vậy. Trong lĩnh vực tiểu thuyết, không có một phong trào rầm rộ. Người ta cứ lặng lẽ làm. Nhưng thỉnh thoảng, họ vẫn nói với nhau một vài câu chuyện nghề nghiệp.
Các nhà văn thời Trúc Khê rất trọng nhau và thường sẻ chia theo cách của mỗi người nhưng vì đó là buổi bình minh khi thơ văn thành nghiệp nên điểm chung khiến mọi người cùng rất dễ tiến bộ là ai cũng trọng nghề văn và coi viết và sáng tạo “khơi những nguồn chưa ai khơi” là những điều thiêng quý. Trúc Khê cũng vậy, đọc ông, chúng ta thấy rõ ý thức trách nhiệm của con người với cuộc đời. Cho dù, thời đó chưa có tổ chức nghề nghiệp, chưa có Hội Nhà văn nhưng ai có tâm với nghề đều gần như có ý thức “hội viên” hội sáng tạo văn chương giúp đời. Đã từng có nhiều nhận định được tán đồng về người Việt quen và giỏi tính việc trước mắt là hơn tính chuyện lâu dài, thích thiết thực và trọng thực hành hơn lí thuyết.
Nhận xét ấy có lẽ cũng đúng ở lĩnh vực văn chương. Như vậy, sản phẩm văn học của thời đầu thế kỷ XX là những gì mà người đương thời thấy có thể viết, có thể truyền bá là làm. Những trăn trở của nhà văn Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao về việc không thể cho ra đời thứ văn chương “quấy loãng” và điều nhức nhối rằng cẩu thả trong văn chương là “khốn nạn” phản ánh ý thức của người cầm bút lúc đó. Cách tự răn như thế khiến các nhà văn thời đầu thế kỷ XX thật đáng trân trọng.
Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng cần kiếm tiền nuôi gia đình nhưng ông đã chọn cho mình hướng đi riêng, cách sáng tạo riêng. Ông không lý thuyết cao đàm khoát luận mà âm thầm theo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đường văn với hành trang là tinh thần dân tộc và quý trọng những nét đẹp đã qua thử thách của thời gian. Thế nên dù có thể bị chê là chưa đổi mới mạnh mẽ, nhưng ở tác giả này tuyệt đối không có bước đi quá rồi lùi lại. Xin được nhớ lại rằng, khi tổng kết phong trào Thơ mới, Hoài Thanh đã nhận xét là chỉ sau một ít có vẻ như xa lánh, khinh rẻ, các nhà thơ mới lại nhanh chóng quay về với truyền thống thơ Đường, và nếu được bổ sung thì phải nói có cả truyền thống dân gian.
Sự kiên định và “biết mình biết người” của Trúc Khê là một điều rất rõ. Khi tìm hiểu về Trúc Khê, chúng ta cần quan tâm đến quan hệ của văn chương và báo chí đương thời. Trúc Khê là một nhà báo với số lượng bài viết rất lớn. Đã làm báo thì thời nào cũng cần sự năng động.
Và việc kết nối được người viết văn với làm báo vừa ngỡ là đương nhiên, vừa như thử thách.