Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Nguyễn Khải: Cảm Hứng Nghệ Thuật và Nhân Vật

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn khải, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2004

84
17
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

Lý do chọn đề tài

Giới hạn của đề tài

Lịch sử vấn đề

Những đóng góp của luận văn

Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI

2. CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI

THƯ MỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Nguyễn Khải Giá Trị Nghệ Thuật

Tiểu thuyết của Nguyễn Khải là một phần quan trọng của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Dù không tạo ra những cuộc tranh luận lớn như một số tác giả khác, Nguyễn Khải vẫn là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam. Ông thuộc thế hệ nhà văn sớm giác ngộ cách mạng và trưởng thành trong gian khổ. Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, Nguyễn Khải đã đóng góp một số lượng lớn tác phẩm, đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết. Các tác phẩm này được đánh giá cao không chỉ về nội dung mà còn về mặt thi pháp. Tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông. Các nhà nghiên cứu văn học đều coi Nguyễn Khải là một trong những tác giả đại diện cho nền văn xuôi sau Cách mạng tháng Tám. Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng văn học ASEAN là minh chứng cho vị trí xứng đáng của ông. Đến nay, con người, cuộc đời và tác phẩm của ông vẫn có tầm ảnh hưởng sâu rộng.

1.1. Bối Cảnh Sáng Tác và Ảnh Hưởng của Nguyễn Khải

Nguyễn Khải bắt đầu sự nghiệp văn chương từ rất sớm, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách nghệ thuật Nguyễn Khảiđề tài trong tiểu thuyết Nguyễn Khải. Các tác phẩm của ông thường phản ánh những vấn đề thời sự nóng bỏng, thể hiện qua cách viết tranh luận, đối thoại. Ông có khả năng tiếp cận hiện thực độc đáo, cái nhìn sắc sảo về đời sống và thấu hiểu tâm lý con người. Theo Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Khải có cái nhìn nhạy bén, thấu suốt vào những vấn đề phức tạp của cuộc sống.

1.2. Giá Trị Hiện Thực và Nhân Văn trong Tác Phẩm

Các tác phẩm của Nguyễn Khải không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông luôn quan tâm đến số phận con người, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Tác phẩm của ông thường đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống, về đạo đức và về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội. Theo Phan Cự Đệ, ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải ngày càng xúc động hơn, tình cảm hơn, giàu chất trữ tình lãng mạn hơn, nhân hậu hơn, tin yêu con người hơn.

II. Cảm Hứng Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Khải Phân Tích

Cảm hứng nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thể hiện qua cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi những niềm tin mê muội và những thiết chế tôn giáo cản trở sự phát triển. Đồng thời, nó còn thể hiện qua vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động. Nguyễn Khải tiếp cận cuộc sống với thái độ nghiên cứu, phân tích nghiêm túc. Ông muốn đi vào cuộc sống thực với tất cả sự phong phú, sinh động, với tất cả sự mộc mạc thô nhám sù sì của nó. Ông chủ động xông vào những hiện thực gai góc, muốn đào xới, phanh phui để từ đó tìm ra sự thật.

2.1. Cảm Hứng Nghiên Cứu và Phân Tích Đời Sống

Theo Trần Đình Sử, cảm hứng nghiên cứu là một trong hai đặc điểm chính tạo nên thành công trong sáng tác của Nguyễn Khải. Ông lí giải rằng tinh thần trong sáng tác khác hẳn cảm hứng minh họa. Sáng tác với cảm hứng nghiên cứu thì khác, dù có khi lấy chung đề tài với sáng tác minh họa. Ý nghĩa nhận thức của tác phẩm (viết theo cảm hứng nghiên cứu), do vậy cao hơn bất cứ ý đồ minh họa và lên án đơn thuần nào.

2.2. Cảm Hứng Hiện Thực và Cái Nhìn Tỉnh Táo

Nguyễn Khải có cái nhìn sắc sảo, khao khát có mặt trong ngày hôm nay đối thoại với chính mình và tự phát hiện trở lại. Ông thích gọi tên những cái đang còn ẩn hiện, mờ ảo le lói, thích viết về cái đang còn manh nha, nâng tầm mắt của bạn đọc lên cao hơn nhằm hướng tới những mục tiêu sắp xuất hiện. Theo Nguyễn Thị Bình, hứng thú nghiên cứu thực tại là một biểu hiện đầu tiên của tư duy tiểu thuyết Nguyễn Khải, qua việc nhà văn luôn phát hiện ra những vấn đề ẩn sau các sự vật hiện tượng tưởng như đơn giản quen thuộc.

2.3. Cảm Hứng Về Con Người và Số Phận Cá Nhân

Nguyễn Khải không chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề mà ông cố gắng trình bày sự nghiền ngẫm nghiên cứu của mình. Tác phẩm văn học mang cảm hứng nghiên cứu thường đem lại cái nhìn không xuôi chiều dễ dãi. Theo Đào Thủy Nguyên, nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Khải là sản phẩm của cảm hứng nghiên cứu phân tích. Và bên cạnh cảm hứng nghiên cứu, phân tích sáng tác của Nguyễn Khải còn bao gồm nhiều cảm hứng khác cũng đậm nét và quan trọng không kém.

III. Nhân Vật Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Khải Nghệ Thuật Xây Dựng

Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải thường được xây dựng một cách tỉ mỉ, với sự chú trọng đến tâm lý và tính cách. Ông đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật, giúp người đọc hiểu rõ hơn về suy nghĩ và hành động của họ. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Nguyễn Khải đôi khi quá chú trọng đến vấn đề mà chưa đủ tập trung vào việc xây dựng tính cách nhân vật một cách trọn vẹn. Dù vậy, ông vẫn được đánh giá cao về khả năng khắc họa chân dung nhân vật một cách sắc sảo và nhanh chóng.

3.1. Phân Tích Tâm Lý Nhân Vật và Tính Cách

Vũ Tú Nam nhận ra điểm mạnh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Khải là đi sâu vào tâm lí nhân vật, phân tích khá tinh tế sâu sắc. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Hạnh lại chỉ ra rằng Nguyễn Khải suy nghĩ bằng sự kiện, bằng vấn đề mà chưa bằng tính cách, bằng nhân vật. Có những nhân vật xây dựng tính cách khá rõ nhưng những nhân vật như vậy còn ít, mà những nhân vật dở dang xương xẩu lại nhiều hơn.

3.2. Các Loại Hình Nhân Vật Tiêu Biểu

Đoàn Trọng Huy nhận thấy, có hai loại nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải. Loại thứ nhất: Nhân vật hiện thực được khảo sát và lấy tư liệu từ những con người thật ngoài đời. Loại nhân vật thứ hai là nhân vật chính luận có đặc điểm thường hay tranh cãi, lí sự. Vương Trí Nhàn còn phát hiện thêm hai loại nhân vật nữa trong tiểu thuyết Nguyễn Khải. Đó là: Loại nhân vật khôn ngoan - khôn tức là thích ứng và loại người bất lực - nói năng lúng búng, cử chỉ vụng về.

3.3. Mối Quan Hệ Giữa Nhân Vật và Bối Cảnh Xã Hội

Nguyễn Thị Bình viết trong Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết, nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thường là nhân vật tư tưởng .dù là nông dân hay bộ đội, trẻ hay già, ta hay địch đều thông minh, ăn nói giỏi.Nguyễn Khải đặc biệt say mê loại nhân vật thích ứng với thời thế. Theo bà, nghiên cứu con người giữa các thế hệ lịch sử là một hướng đào sâu, một cách tiếp cận mới của Nguyễn Khải.

IV. Phong Cách Nghệ Thuật Nguyễn Khải Ngôn Ngữ và Trần Thuật

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải nổi bật với ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày. Ông sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, phù hợp với từng nhân vật và từng tình huống. Bên cạnh đó, Nguyễn Khải cũng chú trọng đến nghệ thuật trần thuật, tạo ra những câu chuyện hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Ông thường sử dụng các kỹ thuật như đối thoại, độc thoại nội tâm để khám phá sâu sắc thế giới bên trong của nhân vật.

4.1. Ngôn Ngữ Đời Thường và Tính Biểu Cảm

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Khải mang đậm chất đời thường, gần gũi với ngôn ngữ của người dân lao động. Ông sử dụng nhiều từ ngữ địa phương, khẩu ngữ, tạo nên sự chân thực và sinh động cho tác phẩm. Đồng thời, ngôn ngữ của ông cũng rất biểu cảm, thể hiện rõ cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật.

4.2. Nghệ Thuật Trần Thuật Khách Quan và Chủ Quan

Trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, lời văn nghệ thuật được tổ chức theo hướng tường thuật khách quan hóa và chủ quan hóa. Kiểu tường thuật khách quan hóa bao gồm kiểu tường thuật lạnh lùng, kiểu người tường thuật hòa mình với nhân vật và kiểu người tường thuật ủy thác cho nhân vật. Kiểu tường thuật chủ quan hóa bao gồm kiểu người tường thuật xưng “Tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó “Tôi” vừa là người tường thuật vừa là một nhân vật và kiểu người tường thuật xưng “Tôi” luôn tự ý thức về vai trò nhà văn của mình.

4.3. Sử Dụng Đối Thoại và Độc Thoại Nội Tâm

Nguyễn Khải thường sử dụng đối thoại và độc thoại nội tâm để khám phá sâu sắc thế giới bên trong của nhân vật. Qua đối thoại, ông thể hiện sự xung đột giữa các nhân vật, đồng thời làm nổi bật tính cách và quan điểm của họ. Độc thoại nội tâm giúp người đọc hiểu rõ hơn về suy nghĩ, cảm xúc và những trăn trở của nhân vật.

V. Giá Trị Tiểu Thuyết Nguyễn Khải Lịch Sử và Văn Hóa

Tiểu thuyết của Nguyễn Khải không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật mà còn có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa. Tác phẩm của ông phản ánh chân thực cuộc sống xã hội Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động của lịch sử. Ông đã ghi lại những dấu ấn của thời đại, đồng thời thể hiện những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Qua đó, Nguyễn Khải đã góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của Việt Nam.

5.1. Phản Ánh Bối Cảnh Lịch Sử và Xã Hội

Các tác phẩm của Nguyễn Khải phản ánh chân thực bối cảnh lịch sử và xã hội Việt Nam trong giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám. Ông đã ghi lại những sự kiện quan trọng, những biến đổi xã hội và những vấn đề thời sự nóng bỏng. Qua đó, người đọc có thể hiểu rõ hơn về lịch sử và xã hội Việt Nam trong giai đoạn này.

5.2. Thể Hiện Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Bên cạnh việc phản ánh hiện thực xã hội, tiểu thuyết Nguyễn Khải cũng thể hiện những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Ông đã khắc họa những phong tục tập quán, những nét đẹp trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Qua đó, ông đã góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của Việt Nam.

5.3. Đóng Góp vào Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam

Tiểu thuyết Nguyễn Khải là một nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông đã được nghiên cứu, phân tích và đánh giá cao về mặt nghệ thuật và nội dung. Qua đó, Nguyễn Khải đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển nền văn học Việt Nam.

VI. Đánh Giá và Tương Lai Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Nguyễn Khải

Tiểu thuyết của Nguyễn Khải đã được đánh giá cao về mặt nghệ thuật và nội dung. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và khám phá thêm. Trong tương lai, các nhà nghiên cứu văn học có thể tiếp tục đi sâu vào phân tích phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải, nghệ thuật xây dựng nhân vật và những giá trị tư tưởng trong tác phẩm của ông. Đồng thời, cần có những nghiên cứu so sánh tiểu thuyết Nguyễn Khải với các tác giả khác để làm nổi bật hơn vị trí và vai trò của ông trong nền văn học Việt Nam.

6.1. Tổng Kết Những Thành Tựu và Hạn Chế

Tiểu thuyết Nguyễn Khải đã đạt được nhiều thành tựu về mặt nghệ thuật và nội dung. Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế cần được khắc phục. Trong tương lai, các nhà văn có thể học hỏi những kinh nghiệm của Nguyễn Khải, đồng thời tìm tòi, sáng tạo những phương pháp mới để nâng cao chất lượng tác phẩm.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mới và Tiềm Năng Phát Triển

Trong tương lai, có thể có nhiều hướng nghiên cứu mới về tiểu thuyết Nguyễn Khải. Ví dụ, có thể nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiểu thuyết Nguyễn Khải và các trào lưu văn học khác, hoặc nghiên cứu về ảnh hưởng của Nguyễn Khải đối với các nhà văn trẻ. Đồng thời, cần có những nghiên cứu liên ngành để khám phá sâu sắc hơn những giá trị của tiểu thuyết Nguyễn Khải.

6.3. Giá Trị Bền Vững và Tầm Ảnh Hưởng

Tiểu thuyết Nguyễn Khải có những giá trị bền vững và tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông không chỉ là những trang văn đẹp mà còn là những bài học quý giá về cuộc sống, về con người và về xã hội. Qua đó, Nguyễn Khải đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

05/06/2025
Luận văn đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn khải

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI. Cảm hứng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung tư tưởng và nghệ thuật tác phẩm. Nhờ có cảm hứng, tác phẩm có thể làm rung động trái tim độc giả, đề tài, chủ đề mới được khái quát, lí giải có chiều sâu và mang tính thẩm mĩ. Cùng với đề tài, chủ đề, tính điệu thẩm mĩ, cảm hứng góp phần tạo nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm.

Đọc Nguyễn Khải, tham khảo ý kiến đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu phê bình, chúng tôi nhận thấy, cảm hứng tư tưởng xuyên suốt quá trình sáng tác tiểu thuyết của ông là cảm hứng nghiên cứu, phân tích. Với bản chất thông minh nhạy cảm, ham hiểu biết, nhà văn luôn nhìn thấy ở hiện thực cuộc sống biết bao bao vấn đề thuộc về con người, về cuộc sống, cần phải được nhận thức, khám phá toàn bộ sự thực, với những qui luật phát triển lịch sử của nó. Vì thế, tinh thần phân tích xã hội và nghiên cứu con người là những vấn đề cốt lõi trong cảm hứng sáng tạo, làm cho tác phẩm của nhà văn không rơi vào tình trạng công thức giáo điều, dù nó ra đời ở thời kì văn học nặng về minh họa. Trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, “mỗi nhân vật của ông muốn là một túi khôn, mỗi trang viết của ông là một trang dạy khôn thiên hạ” (46, 416).

Nội dung ấy đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của văn học nghệ thuật, không chỉ làm cho con người hiểu biết để nhân ái hơn, lương thiện hơn, mà còn làm cho con người đa dạng phong phú từng trải, hiểu biết về tất cả những vấn đề xã hội, nhân sinh có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc liên quan đến cuộc sống của mình. Nghiên cứu, phân tích hiện thực, nâng cao trình độ tư duy nhận thức cho con người là một đặc trưng nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, đồng thời nó cũng là một nguyên tắc sáng tác của văn học hiện thực cách mạng, kể từ khi miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. cảm hứng này được tác giả thể hiện qua tác phẩm, ở hai vấn đề mang tính triết học, có ý nghĩa nhân sinh lâu dài. Cảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi niềm tin mê muội vào tôn giáo và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển của con người, giúp họ được sống và làm việc một cách thanh thản, hạnh phúc.

Phải thừa nhận, tôn giáo là một phần tất yếu đóng vai trò quan trọng chi phối đời sống tinh thần xã hội. Nó có lịch sử lâu đời và mang tính văn hóa. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mỗi công dân đều có quyền được tự do tín ngưỡng, và tự do không tín ngưỡng, được phép tìm đến một đức tin mà không ai có quyền ngăn cản. ở phía tươi sáng nhất, tôn giáo nào cũng mang trong nó những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ, góp phần hướng thiện con người.

Ở Phật giáo là tinh thần phá chấp triệt để, từ bi hỉ sả cứu khổ cứu nạn, kết hợp với truyền thống tương thân tương ái của dân tộc, từ lâu đã trở thành nghệ thuật sống đúng đắn, tạo nên những nhân cách cao đẹp được lịch sử ghi nhận (thời đại Lý Trần là một ví dụ tiêu biểu). Thiên Chúa giáo cũng kêu gọi con người sống bác ái, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, biết xám hối trước những lỗi lầm mắc phải, để bản thân ngày một hoàn thiện hơn. Bên cạnh mặt tốt đẹp ấy, tôn giáo cũng bộc lộ không ít những hạn chế, thậm chí để lại những di chứng tai hại trong đời sống con người, cản trở sự tiến bộ xã hội. Một số kẻ đã lợi dụng tôn giáo để trục lợi, hay mưu đồ chính trị.

Một bộ phận quần chúng ngộ nhận tự do tín ngưỡng, nhầm lẫn giữa niềm tin tôn giáo với hủ tục mê tín dị đoan, tự biến mình thành những nạn nhân khốn khổ của thần quyền. So với Phật giáo, Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta muộn hơn, nhưng ảnh hưởng cửa nó đến đời sống tư tưởng con người và tinh thần dân tộc thật sâu sắc, ở cả hai bình diện tích cực và tiêu cực. Vì thế, nó trở thành một đề tài mới, khá thú vị trong văn học. ơ lĩnh vực này, Nguyễn Khải được đánh giá là người có những tác phẩm giá trị, có những hiểu biết nghiêm túc về tôn giáo.

Qua bộ tứ tiểu thuyết “Xung đột”, “Cha và con và.”, “Điều tra về một cái chết”, và “Thời gian của người”, Nguyễn Khải cho độc giả thấy được tất cả những mặt hay, dở của Thiên Chúa giáo và tác động của nó lên đời sống cộng đồng. Để giải phóng giáo dân ra khỏi niềm tin mê muội và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển con người, Nguyễn Khải đã xây dựng những nhân vật phản diện. Qua những hình tượng ấy, giáo dân từng bước nhận thấy bản chất xấu xa, bỉ ổi, tàn bạo của những kẻ đội lốt thầy tu và mặt trái của thứ tôn giáo chủ trương đứng bên lề cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đó, họ tự biết mình phải làm gì để không trở thành nạn nhân.

“Xung đột” ra đời nhờ chuyến đi thực tế của nhà văn đến một vùng nông thôn công giáo ở tỉnh Nam Định. Thông qua câu chuyện ở xóm đạo Nghĩa Hưng, nhà văn đã tái hiện một cách sinh động cuộc đấu tranh giữa những cán bộ cách mạng và bọn phản động núp bóng nhà thờ. Cha Vinh là tên phản động đã gây ra nhiều tội ác với dân làng, hắn “đã từng cộng tác với quân Pháp trong suốt mấy chục năm chúng chiếm đóng” đã từng mang quân từ Phát Diệm về đốt trụi xóm làng, lấy thóc của nhà xứ, cướp thóc của dân, hành hạ những người không theo hắn, con ông Thiềm là một nạn nhân tiêu biểu. Sau cải cách ruộng đất, cha Vinh vẫn không thay đổi bản chất của mình, dù đã được cách mạng cho đi cải tạo giáo dục.

Hắn vẫn tỏ ra nguy hiểm. Trước mặt cán bộ xã thì nhún nhường hạ giọng, nhưng ẩn trong những câu nói vẫn là sự xỏ xiên khiêu khích. Môn nổi tiếng là người đã từng ăn cơm khắp thiên hạ, khôn ngoan không ai có thể bịp được cũng đã từng bị cha Vinh “xỏ ngọt” và gọi là “con sói dữ”, nhưng không biết trị hắn bằng cách nào. Cũng giống như cha Lân, người có giọng nói “cứ trơn nhẫy như bọc ngoài một lớp nhớt mỏng, rất khó nắm bắt được ý thật của người nói và càng khó đề phòng”, hắn là người nổi tiếng nhất về rao truyền kinh thánh trong địa phận, âm mưu dùng tòa Thánh làm bàn đạp tấn công chế độ mới.

Vũ khí sắc bén của bọn này chính là cái lưỡi của chúng. Trước khi “bị chính phủ cho đi tù mười hai tháng”, cha Vinh vẫn kịp dặn dò con chiên “Đừng thấy giáo dân có chức vụ, địa vị trong xã hội mà đã tin. Bề ngoài là thế chứ trong lòng là quân phản Chúa”. Trợ thủ đắc lực của cha Vinh là tu sĩ Thịnh.

“Lãnh tụ liền tôn diệt cộng toàn khu. Thầy chỉ tạm náu mình trong chiếc áo dài thâm xẻ tà nhưng uy quyền của thầy còn gấp bội những áo chùng thâm bịt tà”. Thừa biết ở thôn Hỗ, từ lâu, người dân đã mê muội tin vào Chúa Trời để sống cam chịu, không dám làm trái với lời răn dạy của các cha, tu sĩ Thịnh đã lôi kéo được những kẻ ngu đạo về phía mình bằng việc kể ra những tấm gương tử vì đạo như “Bình Huy, Bình Đạt, thầy già thầy Uyển bị kẹp cổ, tuốt nứa, sỏ chân vào lưỡi cày nung đỏ mà vẫn không chịu bước qua cây thánh giá”. Trước khi kể, không biết lần thứ bao nhiêu câu chuyện này, thầy luôn tạo ra một không khí trang nghiêm bằng vẻ mặt “cổ kính và huyền bí”.

Thầy đã thật thành công trong việc “quyến rũ người ta đi theo không kịp do dự, kích người ta hành động không kịp suy nghĩ, y như một tia lửa bén đến làm bùng cháy sự tin yêu phẫn nộ vốn ấp ủ trong lòng mỗi người. Mặt Lý nóng lên như muốn bắn ra tia máu đỏ tươi, mắt rưng rưng như muôn khóc, Quảng ngồi đôi diện với Lý cũng trong một trạng thái bị kích thích đến tột độ”. Ngay sau đó, người đọc chứng kiến một đoàn hơn hai mươi người, phần lớn là thiếu nữ đi bắt “hai con qủi nguy hiểm”. Lý một mực đòi trói nghiến Thụy lại sau khi tuyên bố “vũ lực là xong”, “không phải cãi”, “có chết cũng chỉ mình gái này”, theo thị, “dù có chết một hai người cũng là tử vì đạo”.

Quảng sẵn sàng nằm giả chết để vu vạ cho bộ đội tội đánh dân. Vợ Tường cũng góp công bằng một màn phô diễn thô thiển có lẽ vào loại “độc nhất vô nhị”: “Hôm Quảng gieo vạ, thị vén ngược áo vạch hai bầu vú đánh nhau tay đôi với bộ đội, mồm lu loa: “Nào chúng mày có giỏi thì đâm bà đi, bắn bà một phát xem nào!”. Có một anh lấy tay đun thẳng chị ra, lập tức thị nắm chặt lấy cổ tay anh ấy áp vào vú mình chu chéo “ơi ông cả bà nhớn ơi! Xem đây này, ban ngày ban mặt mà bộ đội dám bóp vú tôi đây này”.Chỉ bằng vài chi tiết nghệ thuật, Nguyễn Khải cho người đọc thấy được sức mạnh ghê gớm của bọn người nhà đạo trong việc đấu tranh chống phá chính quyền, khi chúng có trong tay một cách dễ dàng những giáo dân sẵn sàng “tử vì đạo”. Sau việc cứu cha Vinh không thành, biết không thể thắng được cán bộ cách mạng, nếu chỉ trông vào một nhóm người “hữu dũng vô mưu”, bọn phản động đội lốt tôn giáo đã sử dụng kiểu “chiến tranh tâm lí”.

Chúng quay sang thuyết phục, lợi dụng người thân của những cán bộ, kích động họ để tạo ra những mâu thuẫn âm ỉ trong mỗi gia đình, nhằm phá hoại tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ - con cái, vợ chồng. Tường về quê ăn tết, lần đầu tiên sau gần mười năm đi bộ đội, nhưng gia đình đón anh bằng sự ghẻ lạnh đáng kinh ngạc. Điều này làm Tường đau đớn. Không khí gia đình anh trở nên căng thẳng.

Nguyên nhân chính là việc người thân của anh đã quá tin vào miệng lưỡi xúc Xiểm của kẻ xấu, nên một mực cho rằng anh đi theo cách mạng là vô đạo. Ngày cuối cùng ở nhà, Tường phải đi đến một quyết định thật khó khăn: “Bố mẹ sợ liên lụy vì con, không muốn nhận con nữa thì cứ việc làm giấy lên ủy ban mà từ. Con xin chịu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Nguyễn Khải: Cảm Hứng Nghệ Thuật và Nhân Vật" mang đến cái nhìn sâu sắc về các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Khải, tập trung vào cảm hứng nghệ thuật và sự phát triển của nhân vật trong tiểu thuyết của ông. Tác giả phân tích cách mà Nguyễn Khải khắc họa nhân vật, từ đó phản ánh những vấn đề xã hội và tâm tư của con người trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Nguyễn Khải, cũng như cách mà các nhân vật của ông có thể gợi mở những suy ngẫm về cuộc sống và con người.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Chuyển thể cốt truyện và nhân vật từ chùa đàn đến mê thảo thời vang bóng, nơi khám phá sự chuyển thể trong văn học, hay Luận văn sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của nguyễn quang thiều, giúp bạn hiểu thêm về mối liên hệ giữa các thể loại văn học. Cuối cùng, tài liệu Ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và lịch sử đến hệ thống nhân vật trong hai truyện thơ nôm truyện kiều nguyễn du và lục vân tiên nguyễn đình chiểu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng văn hóa trong việc xây dựng nhân vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong văn học Việt Nam.