Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. – Chương 2: Truyền thuyết về “tổ sư bách nghệ” nhìn từ phương diện nhân vật, kết cấu và motif. – Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật “tổ sư bách nghệ” trong mối quan hệ với các thành tố văn hóa khác trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Đặc trƣng không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ 1. Đặc điểm tự nhiên vùng châu thổ Bắc Bộ Ở chương 4 trong cuốn sách Cơ sở văn hóa của tác giả Trần Quốc Vượng (Chủ biên) từ trang 208 đến trang 212 có nói đến cơ sở việc chia không gian văn hóa Việt Nam ra thành sáu vùng văn hóa cụ thể là: vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hóa Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên, vùng văn hóa Nam Bộ. Khi nói vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là nói tới vùng văn hóa thuộc địa phận các tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình; thành phố Hà Nội, Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Về vị trí địa lí, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Đông – Tây và Bắc – Nam. Mặt khác, khí hậu vùng Bắc Bộ thật độc đáo, khác hẳn với các đồng bằng khác. Khí hậu vùng này lại rất thất thường, có gió mùa Đông Bắc vừa lạnh vừa ẩm rất khó chịu, gió mùa hè nóng và ẩm. Một đặc điểm nữa là môi trường nước.
Đồng bằng Bắc Bộ có một hệ thống sông ngòi khá dày đặc (khoảng 0,5 – 1km/km 2 ) từ những hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Thái Bình,. cung cấp nước cho vùng nông nghiệp rộng lớn. Đặc điểm lịch sử – kinh tế – xã hội Những người nông dân Bắc Bộ này lại sống quần tụ thành làng. Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt.
Nó là kết quả của công xã nông thôn sản xuất nông nghiệp. Môi trường xã hội: Cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy. Người nông dân Việt ở Bắc Bộ là người nông dân đồng bằng, đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối, đánh cá ở ven biển. Trước kia nghề khai thác hải sản không mấy phát triển như bây giờ.
Họ tận dụng ao, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hồ, đầm để khai thác thủy sản là một phương thức được người nông dân rất chú trọng. Đã có lúc việc khai thác ao hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như một câu ngạn ngữ: Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền (nhất thả cá ao, nhì làm vườn, ba làm ruộng). Dù sao, phương thức canh tác chính của cư dân đồng bằng sông Hồng vẫn là trồng lúa nước (chiếm khoảng 82% diện tích trồng cây lương thực). Trong khi đó, đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông.
Vì thế, để tận dụng thời gian rảnh rỗi của vòng quay mùa vụ, người nông dân đã làm thêm nhiều nghề thủ công. Ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ trước đây, người ta đã từng đếm được hàng trăm nghề thủ công, có một số làng phát triển thành chuyên nghiệp với những người thợ có tay nghề cao. Một số nghề đã rất phát triển, có lịch sử tồn tại lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, nghề luyện kim, đúc đồng,… 1. Đặc điểm văn hoá Như đã trình bày ở trên, Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt, vì thế, cũng là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau: Văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt và văn hoá Việt Nam.
Trước tiên là sự ứng xử với thiên nhiên. Hàng ngàn năm lịch sử, người dân Việt đã chinh phục thiên nhiên, tạo nên một diện mạo đồng bằng như ngày nay bằng việc đắp mương, đắp bờ, đắp đê. Ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ vẫn như mô hình bữa ăn của người Việt trên các vùng đất khác đặc trưng là: cơm + rau + cá, nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt. Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồng bằng, thủy hải sản chưa phải là thứ ăn chiếm ưu thế, các thức ăn gia súc, gia cầm được lựa chọn.
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng với thiên nhiên của vùng đó là màu nâu. Ngày nay, y phục người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều, cập nhật xu hướng ăn mặc hiện đại, nhiều màu sắc và kiểu dáng đa dạng hơn. Các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương. Đền, đình, chùa, miếu,… có mặt ở hầu khắp các địa bàn, các làng quê.
Nhiều di tích nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài biết đến như Đền Hùng, khu vực 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu, chùa Hương, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng, đền ông Hoàng Mười,… Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại mỏ với nhiều khoáng sản quý hiếm. Từ thần thoại đến truyền thuyết rồi cổ tích, từ ca dao đến tục ngữ, từ truyện cười đến truyện trạng,…mỗi thể loại đều có một tầm mức dày dặn, mang nét riêng của Bắc Bộ. Chẳng hạn truyện trạng ở Bắc Bộ như truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn,…, sử dụng các hình thức câu đố, câu đối, nói lái, chơi chữ nhiều hơn truyện trạng ở các vùng khác hay truyền thuyết về các vị anh hùng chống giặc ngoại xâm, anh hùng văn hóa chiếm số lượng lớn, nhiều nhất so với các vùng còn lại như truyện về Hùng Vương, Sơn Tinh, Hai Bà Trưng, Lê Lợi,. Các thể loại thuộc nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét.
Đó là hát quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát chầu văn, hát chèo, múa rối,… Đáng kể nhất là những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cư dân Bắc Bộ. Mọi tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành Hoàng, thờ Mẫu, thờ tổ nghề,… có mặt trên hầu khắp các làng quê Bắc Bộ. Theo dữ liệu cung cấp trong cuốn Cơ sở văn hóa thì cả nước có khoảng hơn 800 lễ hội quy mô lớn và vùng châu thổ Bắc Bộ là vùng diễn ra nhiều lễ hội nhất với hơn 240 loại hình sinh hoạt văn hóa. Như vậy, ta có thể thấy rõ ràng lễ hội là một nét tiêu biểu trong văn hóa tín ngưỡng của vùng văn hóa Châu thổ Bắc Bộ.
Khi nói về nét đẹp văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ, người ta không thể không nhắc đến những làng nghề thủ công đã có lịch sử phát triển cách đây hàng trăm năm. Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Piere Gourou đã đếm được 108 nghề thủ công ở 7000 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Ở đây có tới 500 làng nghề, tập trung nhiều nhất ở Nam Định, Hà tây, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hà Nội. Tóm lại, với những sắc thái đặc trưng với những giá trị lớn, văn hóa tín ngưỡng ở vùng Bắc Bộ đã góp phần không nhỏ trên hành trình xây dựng một nền văn hóa tiến bộ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Khái niệm truyền thuyết và truyền thuyết nhân vật 1. Khái niệm và bản chất của truyền thuyết Đã có nhiều ý kiến, nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm truyền thuyết và đa số đều coi truyền thuyết là một thể loại của Văn học dân gian. Nhân 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vật trong truyền thuyết là những nhân vật đã được hình tượng hóa do sự phản ánh có tính lịch sử, truyền thuyết phản ánh nhận thức và tình cảm của nhân dân đối với lịch sử. Trong sự phản ánh đó, không phải lúc nào người ta cũng tôn trọng lịch sử mà chỉ nhấn mạnh đến một số chi tiết có dụng ý và quan tâm nhiều hơn những điều nên có theo mong ước của nhân dân.
Vì vậy, điều mà truyền thuyết phản ánh không phải là lịch sử như thế nào mà là lịch sử đem lại cái gì cho nhận thức và tình cảm của nhân dân. Do đó, có thể coi tất cả những truyện truyền miệng, có đặc trưng nghệ thuật, có liên quan đến lịch sử dân tộc từ trước đến nay đều là truyền thuyết. Vì những quan niệm khác nhau nên cũng có nhiều khái niệm khác nhau về truyền thuyết. Tác giả Đỗ Bình Trị trong giáo trình Văn học dân gian (phần truyền thuyết) của trường Đại học Sư phạm do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1970 đã đưa ra định nghĩa riêng: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với lịch sử” [ tr.
Bài viết tiểu luận Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến của tác giả Kiều Thu Hoạch năm 1971, có đưa ra quan niệm về truyền thuyết: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [tr. Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2001, tác giả Lê Chí Quế định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì.