Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI BÀ O CHƢ̃ A, NGƢỜI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO ĐƢƠNG SƢ̣ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 1. Ngƣời bào chƣ̃a, Ngƣời bảo vê ̣quyề n lơ ̣i cho đƣơng sƣ ̣ trong tố tụng hình sự 1. Người bào chữa Hiê ̣n nay có nhiề u quan đ iể m khác nhau về quyề n bào chữa. Có quan điể m cho rằ ng: “quyề n bào chữa là tổ ng hòa tấ t cả các hành vi tố tụng hướng tới viê ̣c bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm g iảm trách nhiệm của bị can” [22].
Có quan điể m cho rằ ng , “quyề n bào chữa không chỉ thuộc về bi ̣ can , bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội , người bi ̣ kế t án , người bào chữa , bị đơn dân sự và người đại diê ̣n hợp pháp của họ” [47]. Quan điể m khác lại cho rằ ng: Quyề n bào chữa trong BLTTHS là tổ ng hòa các hành vi tố tu ̣ng do người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo, người bi ̣kế t án thực hiê ̣n trên cơ sở phù hơ ̣p với quy đinh ̣ của pháp luâ ̣t nhằ m phủ nhâ ̣n mô ̣t phầ n hay toàn bô ̣ sự buô ̣c tô ̣i của cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng , làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiê ̣m hình sự của mình trong vu ̣ án hình sự [26]. Theo mô ̣t cách hiể u chung nhấ t thì quyề n bào chữa là tổ ng thể các quyề n mà pháp luâ ̣t quy đinh ̣ cho chủ thể của quyề n này đươ ̣c trin ̀ h bày các ý kiế n , quan điể m của mình đối với việc buộc tội , đươ ̣c đưa ra những chứng cứ cầ n thiế t để đề nghi ̣ các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét bác bỏ toàn bộ hoặ c mô ̣t phầ n đố i với viê ̣c buô ̣c tô ̣i hoă ̣c giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m cho ho ̣. Hay nói cách khác , quyề n bào chữa hiể u theo đúng nghiã của từ này là quyề n của mô ̣t người đươ ̣c đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho sự vô tội (lỗi) hoă ̣c giảm nhe ̣ tô ̣i (lỗi của min ̀ h ) [22].
Như vâ ̣y, những chủ thể nào liên quan trực tiế p đ ến viê ̣c buô ̣c tô ̣i và cầ n phải phản bác la ̣i 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viê ̣c buô ̣c tô ̣i đó hoă ̣c để giảm nhe ̣ các trách nhiê ̣m hình sự do viê ̣c buô ̣c tô ̣i gây ra thì mới có thể trở thành chủ thể của quyề n bào chữa. Tóm lại, quyề n bào chữa của người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo là tổng hợp tất cả các hành vi / phương thức mà pháp luâ ̣t quy đ ịnh cho người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo sử d ụng trong các giai đo ạn của quá trình TTHS để chố ng la ̣i sự buô ̣c tô ̣i hoă ̣c làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ. Để thực hiện quyền bào chữa người bị tạm giam, bị can, bị cáo có thể thực hiện bằng một thông qua một hoặc cả hai phương thức là tự mình bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Về phương thức tự mình bào chữa: Đây là hình thức mà người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật quy định cho họ trong việc chứng minh sự vô tô ̣i hoă ̣c làm giả m nhe ̣ tô ̣i cho min ̀ h.
Như vâ ̣y, người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo đươ ̣c sử du ̣ng những hiể u biế t về pháp luâ ̣t của min ̀ h để chố ng la ̣i sự buô ̣c tô ̣i hoă ̣c giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình. Họ có thể thực hiện quyền tự b ào chữa của mình bằng cách đề xuất chứng cứ , nhâ ̣n xét và đánh giá chứng cứ , đưa ra yêu cầ u , tranh luâ ̣n trước tòa, kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án. Về phương thức nhờ người khác bào chữa: Đây là hin ̀ h thức mà ngườ i bi ̣ta ̣m giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa thông qua người bào chữa. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ghi nhận hai phương thức bào chữa trên.
Điề u 11 BLTTHS quy định: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này [30, Điều 11]. Tuy nhiên, BLTTHS chưa đưa ra khái niệm về người bào chữa chỉ đưa ra các đối tượng được thực hiện bào chữa. Khoản 1 Điều 56 BLTTHS quy định: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người bào chữa 1.
Người bào chữa có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Bào chữa viên nhân dân [30, Điều 56]. Như vậy, theo pháp luật tố tụng hình sự nước ta, người bào chữa chỉ có ba đối tượng gồm: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và Bào chữa viên nhân dân. Nhưng người đó không được bào chữa nếu là: a) Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; b) Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch. Luật sư, theo Điề u 2 của Luật Luật sư 2006 thì luật sư là người có đủ tiêu chuẩ n, điề u kiê ̣n hành nghề theo quy đinh ̣ của LLS và thực hiê ̣n các dich ̣ vu ̣ pháp lý theo yêu cầ u của cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.
Theo quy đinh ̣ , công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề Luật sư thì có thể trở thành Luật sư và muốn được hành nghề Luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư [31]. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài.
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay chế định bào chữa viên nhân dân chưa được cụ thể hoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào. Do chưa có quy định cụ thể nên hầu như chưa có sự tham gia của các bào chữa viên nhân dân tại các phiên tòa kể cả hình sự lẫn dân sự, hành chính v. Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của Bộ luật TTHS quy định về người bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của bào chữa viên nhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho bị can , bị cáo , người bị hại.
Thực tế hiê ̣n nay hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống, chưa có quy định nào cụ thể, chi tiết về điều kiện, tiêu chuẩn để được công nhận là bào chữa viên nhân dân, hiện nay trong xã hội có nhiều người có trình độ pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp vào đoàn Luật sư và họ lại được bị can, bị cáo nhờ bào chữa. Có thể nói , viê ̣c bảo đảm q uyề n bào chữa thông qua người bào chữa là mô ̣t đảm bảo rấ t quan tro ̣ng vì nhiề u trường hơ ̣p người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo không hiể u biế t về pháp luâ ̣t thì ho ̣ không thể tự min ̀ h sử du ̣ng hế t các quyề n mà pháp luâ ̣t quy đinh ̣ cho ho ̣ để có thể bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i cho min ̀ h , họ cũng không thể biết và nắ m bắ t hế t đươ ̣c các hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng của cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng có vi pha ̣m pháp luật hay không ? Như vâ ̣y, viê ̣c tham gia của người bào chữ a đươ ̣c xem là mô ̣t sự cầ n thiế t để giúp đỡ cho người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo về mặt pháp lý , bảo vệ quyề n và lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của ho .̣ Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của BLTTHS thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.