Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng quy định về TNHS trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Bảo vệ quyền con người bằng quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định về trách nhiệm hình sự vào công tác bảo vệ quyền con người. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con ngƣời bằng quy định về TNHS trong luật hình sự Việt Nam 1.1 Khái niệm Trách nhiệm hình sự và khái niệm Quyền con ngƣời 1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Để hiểu rõ khái niệm trách nhiệm hình sự là gì, trước hết, ta cần định nghĩa được thế nào là trách nhiệm pháp lý.
Trách nhiệm là "điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình" [19, tr 1621]. Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ trách nhiệm được hiểu theo một số cách như sau. Thứ nhất, trách nhiệm là việc chủ thể phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý được xác lập trong phần quy định của các quy phạm pháp luật; hoặc đó là việc chủ thể phải thực hiện một yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhân danh Nhà nước buộc họ phải làm một công việc nào đó. Thứ hai, trách nhiệm là việc chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định.
Với cách hiểu như vậy, trách nhiệm pháp lý có mối quan hệ mật thiết với các hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là một quan hệ đặc biệt giữa một bên là Nhà nước và bên còn lại là các chủ thể vi phạm pháp luật. Trong mối quan hệ này, "Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định trong các chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó có nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra" [34]. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, các mối quan hệ được các ngành luật tương ứng điều chỉnh cũng như tầm quan trọng của các khách thể được từng ngành luật điều chỉnh, chúng ta có các loại trách nhiệm pháp lý như sau: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm pháp lý kỷ luật.
Trong phạm vi nội dung luận văn, người viết chỉ đề cập đến chế định "trách nhiệm hình sự". Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà một người phải gánh chịu trước nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội của mình. Hành vi phạm tội có thể là các hành vi vi phạm những điều pháp luật hình sự cấm, hoặc không thực hiện những nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện; từ đó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước quy định TNHS để áp dụng đối với người phạm tội theo một thủ tục duy nhất là thủ tục tố tụng hình sự.
Việc áp dụng thủ tục này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người phạm tội, hoặc ý muốn của người bị hại (trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại những điều khoản mang tính chất loại trừ được ghi nhận riêng biệt và cụ thể). Trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi có hành vi phạm tội, từ thời điểm đó Nhà nước có quyền yêu cầu người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Qua công tác tham khảo, nghiên cứu cho thấy, chế định trách nhiệm hình sự là một vấn đề lý luận phức tạp. "Hiện nay giữa các nhà khoa học còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau" [20, tr.
Chúng ta có thể nêu ra ra một số quan điểm nổi bật như sau. Đào Trí Úc định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước [20, tr 41]”. Lê Cảm khẳng định: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định [23, tr. Đỗ Ngọc Quang quan niệm: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [28, tr.
Trong cuốn sách chuyên khảo "Tội phạm và trách nhiệm hình sự", TS Trịnh Tiến Việt coi trách nhiệm hình sự "là một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Bộ luật hình sự quy định đối với người phạm tội" [35, tr. Trong cuốn từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần luật hình sự), trách nhiệm hình sự được hiểu "là dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS ( hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích" [18]. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chế định trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, tựu chung lại, các quan điểm này đều có một số điểm chung thống nhất. Từ đó ta có thể rút ra năm đặc điểm của trách nhiệm hình sự như sau.
Thứ nhất, TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất phản ánh sự lên án của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thông qua những biện pháp cưỡng chế về hình sự - bao gồm hình phạt và các biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế một hay một số quyền, lợi ích hợp pháp áp dụng với đối tượng này. Thứ hai, TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi, là hệ quả tất yếu của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự. Thứ ba, TNHS được xác lập bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành buộc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Thứ tư, TNHS là trách nhiệm mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước chứ không phải với đối tượng bị hành vi phạm tội của người này xâm hại; vì vậy TNHS chỉ được giới hạn trong phạm vi quan hệ pháp luật hình sự giữa hai chủ thể vừa nêu trên.
Thứ năm, TNHS mang tính quyền lực nhà nước, theo đó, chỉ có Nhà nước mới có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS thông qua bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật – việc phải chịu TNHS của một người là chịu trách nhiệm trước nhà nước, phản ánh sự phủ định của Nhà nước với các hành vi phạm tội, thể hiện sự lên án của cả cộng đồng xã hội chức người phạm tội không phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. * Vai trò của chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam Tội phạm và trách nhiệm hình sự là cặp phạm trù có mối quan hệ logic, biện chứng, là hai chế định trung tâm của pháp luật hình sự. Việc xác định tội phạm và TNHS trong một ngành luật riêng biệt là sản phẩm tất yếu của quá trình vận động xã hội. Theo đó, sự tư hữu xuất hiện dẫn đến hệ quả xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, từ đây, những hành vi nguy hại với tính chất, mức độ nguy hại cao, hậu quả để 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại sâu rộng, ảnh hưởng lớn đến đời sống đã phát sinh mà những quy phạm đạo đức hay phong tục tập quán trước đây không còn đủ khả năng điều chỉnh.
Do đó, yêu cầu đặt ra là những hành vi ấy cần được điều chỉnh trong một hệ thống pháp luật với các phương thức xử lý nghiêm khắc hơn, nhằm tiến tới đẩy lùi sự vi phạm, thông qua đó hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả xấu do hành vi phạm tội đem lại. Việc áp dụng chế tài pháp lý hình sự đối với các hành vi nêu trên trước hết là sự lên án của Nhà nước với người phạm tội. Nhà nước là đại diện của nhân dân, đại diện cho toàn xã hội, vì vậy, sự lên án của nhà nước đồng thời cũng là thái độ phản đối của cả cộng đồng, xã hội với những người phạm tội. Một người thực hiện tội phạm có thể phải chịu TNHS thông qua việc thực thi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án với nội dung buộc họ phải chấp hành hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp hình sự khác.
Tòa án là cơ quan đại diện thực thi quyền lực nhà nước buộc người phạm tội phải chịu những sự tác động nhất định về pháp lý hình sự. Tòa án đưa ra các quyết định, bản án xác định TNHS có hiệu lực pháp luật nhằm trừng trị những người phạm tội. Sự trừng trị ấy không chỉ là biện pháp giáo dục đặc biệt giúp người phạm tội nhận ra sai lầm của mình, mà còn là biện pháp răn đe hiệu quả đối với những công dân khác trong xã hội. Thông qua việc buộc những người phạm tội này phải chịu TNHS, Nhà nước hướng đến mục tiêu cuối cùng là hướng họ trở lại làm người có ích cho xã hội, xây dựng cho họ ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc đời sống xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội sau khi đã bị trừng phạt.
Đây là mục tiêu cuối cùng, là kết quả mà mọi Nhà nước đều mong muốn đạt được khi tiến hành xử lý tội phạm và người phạm tội. Điều đó cho thấy bản chất nhân đạo và tính hướng thiện của pháp luật hình sự hiện đại.