Chương 1: Một số vấn đề chung về các hình phạt chính không tƣớc tự do trong luật hình sự Chương 2: Các quy định về hình phạt chính không tƣớc tự do trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về hình phạt chính không tƣớc tự do trong Bộ luật hình sự hiện hành. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC HÌNH PHA ̣T CHÍNH KHÔNG TƢỚC TƢ̣ DO TRONG LUẬT HÌNH SƢ̣ 1. Khái niệm , đă ̣c điể m và ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tư ̣ do 1. Khái niệm và đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do Đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm để tiến tới ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị luôn là nhiệm vụ tất yếu khách quan của bất kì một nhà nƣớc nào trong bất kì một xã hội nào.
Một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc thực hiện nhiệm vụ tất yếu khách quan đó chính là hình phạt. Hiệu quả của việc xử lý hành vi phạm tội thông qua hình phạt phụ thuộc rất nhiều vào việc quy định và áp dụng các quy định đó nhƣ thế nào trong thực tế. Về mặt lập pháp, trong bất kì một Nhà nƣớc nào, các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực tƣ pháp hình sự nói chung và các quy định của hệ thống pháp luật hình sự (PLHS) nói riêng đều nhằm phải mục đích hàng đầu là bảo vệ các quyền tự do của con ngƣời tránh khỏi không chỉ sự xâm hại có tính chất tội phạm của công dân khác, mà còn sự tùy tiện của một số quan chức trong bộ máy công quyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm thô bạo pháp chế và dân chủ, khi áp dụng hình phạt với tƣ cách là biện pháp cƣỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất. Chính vì vậy, mục đích hình phạt ra sao và hệ thống hình phạt trong LHS của một quốc gia nhƣ thế nào, cũng là những tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá mức độ dân chủ và nhân đạo, pháp chế và nhân văn trong quốc gia đó.
Tội phạm và hình phạt thuộc những đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất của khoa học LHS. Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, các hình phạt có ý nghĩa quyết định và góp phần phát huy đƣợc vai trò tích cực là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nƣớc và xã hội đến tội phạm. Hình phạt là một phạm trù pháp lý - xã hội phức tạp, là hệ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả của một loạt các sự kiện, tình tiết đã diễn ra. Đây là một phạm trù đƣợc nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau từ triết học, tâm lý học, tội phạm học, điều tra hình sự, giáo dục học.
nhƣng đƣợc nghiên cứu nhiều nhất dƣới góc độ khoa học LHS.Mác đã từng viết: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho lợi ích giai cấp thống trị trong một xã hội nhất định”,“Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi xâm phạm những điều kiện tồn tại của xã hội đó” [5, tr. Trong lịch sử nhân loại có những quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhƣng về cơ bản, có hai quan điểm chính sau: Quan điểm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù ngƣời phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của tội phạm làm điều răn cho ngƣời phạm tội. Quan điểm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục ngƣời phạm tội [18, tr.
Trong khoa học LHS Việt Nam, các nhà khoa học cũng có nhiều quan điểm về hình phạt, về cơ bản các quan điểm đó là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định: GS. Lê Văn Cảm đƣa ra khái niệm: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc đƣợc quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tƣớc bỏ hay hạn chế quyền, tự do của ngƣời bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự [6, tr. Theo quan điểm của GS. Nguyễn Ngọc Hòa thì: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc nghiêm khắc nhất đƣợc quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính ngƣời đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng nhƣ các quyền và lợi ích hợp pháp của của công dân [20, tr.
Trịnh Quốc Toản đã định nghĩa: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc của Nhà nƣớc, đƣợc quy định trong luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với ngƣời phạm tội và đƣợc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hiện ở việc tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội, không phạm tội mới, giáo dục mọi công dân có ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [55, tr. Lần đầu tiên, BLHS nƣớc ta có một số điều luật nêu khái niệm của hình phạt. Trƣớc khi khái niệm về hình phạt đƣợc quy định chính thức trong BLHS, thì hình phạt chỉ đƣợc nghiên cứu nhƣ là một khái niệm có tính chất khoa học, trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành hoặc trong các giáo trình của các trƣờng đại học. Việc BLHS năm 1999 dành một điều quy định khái niệm về hình phạt là một bƣớc tiến trong công tác lập pháp.
Khái niệm hình phạt quy định tại Điều 26 BLHS đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt. Theo quy định tại Điều 26 BLHS thì: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội” [43, tr. Nhà nƣớc đặt ra hình phạt nhƣng hình phạt đó phải tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do ngƣời phạm tội thực hiện. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Nhân thân ngƣời phạm tội, quan hệ xã hội bị xâm phạm, thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội, ý thức chủ quan của ngƣời phạm tội.
BLHS năm 1999 quy định hệ thống hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; các loại hình phạt đó đƣợc sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc, thể hiện chính sách hình sự của Nhà nƣớc ta là kết hợp giáo dục, thuyết phục với cƣỡng chế, trấn áp. Trong số các hình phạt chính trên thì hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất là các hình phạt chính không tƣớc tự do của ngƣời bị tuyên án. Những ngƣời phạm tội bị áp dụng các hình phạt chính không tƣớc tự do vẫn có thể đƣợc di chuyển, cƣ trú, giao tiếp với xã hội trong phạm vi nhất định. Điều đó có nghĩa là họ không bị cách ly ra khỏi xã hội và vẫn có quyền tự do.
Các hình phạt chính không tƣớc tự do đƣợc hiểu và đƣợc định nghĩa nhƣ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế nào trƣớc hết phải dựa trên cơ sở các đặc điểm thuộc về bản chất của loại hình phạt này. - Thứ nhất, hình phạt chính không tƣớc tự do là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc, có nhiều biện pháp cƣỡng chế nhƣ xử phạt hành chính, buộc bồi thƣờng thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật. So với các biện pháp cƣỡng chế khác thì chỉ có hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất vì: hình phạt đánh vào lợi ích kinh tế, hình phạt hạn chế quyền tự do thân thể, hình phạt đƣợc ghi vào lai lịch tƣ pháp của ngƣời phạm tội hay có án tích.
Án tích là đặc điểm nhân thân bất lợi cho ngƣời phạm tội trong đời sống xã hội, trong khi ngƣời phạm tội có hành vi vi phạm pháp luật. Án tích có thể bị coi là tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, hình phạt hoàn toàn khác với những chế tài của ngành luật khác nhƣ bồi thƣờng thiệt hại trong Luật dân sự, phạt tiền trong Luật hành chính… - Thứ hai, hình phạt chính không tƣớc tự do chỉ áp dụng đối với ngƣời phạm tội. Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt, vừa thể hiện tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS năm 1999): "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [40, tr.
BLHS chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời thực hiện hành vi phạm tội chỉ ngƣời nào phạm tội ngƣời ấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Mọi công dân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Nhƣ vậy, LHS Việt Nam không cho phép ngƣời khác chịu hình phạt thay cho ngƣời phạm tội.
Quy định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của pháp LHS Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt là giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội để họ trở thành ngƣời lƣơng thiện có ích cho xã hội. Hình phạt chính đƣợc quy định cụ thể trong luật, các chủ thể không có quyền thoả thuận các chế tài khác với quy định của luật nhƣ một số ngành luật khác (chẳng hạn trong Luật dân sự có quy định trừ trƣờng hợp các bên có thoả thuận khác). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ ba, hình phạt chính không tƣớc tự do đƣợc quy định trong BLHS, do Tòa án nhân danh Nhà nƣớc áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với ngƣời phạm tội.