chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương, môn Công nghệ 10, Trung học phổ thông”, tác giả Trần Văn Bảo (2011) với đề tài “Thiết kế, sử dụng trò chơi 6 trong dạy học Hóa học”, tác giả Đoàn Thanh Loan (2012) với đề tài “Trò chơi ngôn ngữ trong dạy môn Tiếng anh”. Theo Nguyễn Kim Chuyên (2012) đã thiết kế và sử dụng TCDH nhằm tích cực hóa hoạt động của sinh viên trong dạy và học môn GD học ở cấp Đại học. Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TCDH. Song chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc xây dựng và sử dụng TCDH nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong dạy học môn Công nghệ 6, trường THCS.
Những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học chương 3 Trang phục và thời trang, môn Công nghệ 6, trường THCS” 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Phương pháp dạy học Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá trình nhất định là quá trình dạy học. Đó là một quá trình xã hội bao gồm và gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học trong đó HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
* Khái niệm phương pháp dạy học Theo Nguyễn Ngọc Quang (1970), PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chị đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích DH. Theo Đặng Vũ Hoạt (1971), PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình DH, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo, nhằm thực hiện các nhiệm vụ DH. 7 Theo Đinh Quang Báo (2000), PPDH là cách thức hoạt động của thầy tạo ra mối liên hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt được mục đích DH. Nói chung PPDH chính là cách thức DH của GV trong việc chỉ đạo tổ chức hoạt động của HS nhằm đặt được mục tiêu DH.
Trong hoạt động học này GV là người giữ vai trò chỉ đạo còn HS đóng vai trò người chủ đạo. Phương pháp dạy học tích cực Theo Trần Bá Hoành (1994), PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp GD, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trùng vào phát huy tính tích cực của người học. Nói đến phương pháp dạy học tích cực chính là nói đến cách dạy học mà ở đó, GV là người đưa ra những gợi mở cho một vấn đề và cùng HS bàn luận, tìm ra mấu chốt vấn đề cũng như những vấn đề liên quan.
Phương pháp này lấy sự chủ động tìm tòi, sáng tạo, tư duy của HS làm nền tảng, GV, gia sư chỉ là người dẫn dắt và gợi mở vấn đề. Khái niệm phương tiện dạy học Theo Đặng Thành Hưng (2002), PTDH trên lớp là những đối tượng, đồ vật, vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo có chức năng tạo điều kiện, hỗ trợ, chuyển tải các hoạt động và quan hệ của người GV và người học trên lớp, làm công cụ phục vụ các nhiệm vụ giảng dạy và học tập, thể hiện một cách vật chất những ảnh hưởng sư phạm của nội dung học vấn, của các hoạt động GD và hoạt động của người học, của các phương pháp và biện pháp dạy học, của các quan hệ sư phạm trên lớp theo những tư tưởng và cách thức nhất định, để những ảnh hưởng này có thể tác động đến người học và hoạt động của họ. Trò chơi trong dạy học a. Chơi và hoạt động chơi Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên già đi.
Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái. Đối với người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ. Còn đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài định nghĩa về “chơi” như: + Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gì khác.
+ Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi. + Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu”. Hoạt động chơi là hình thái đặc biệt của sự chơi và chỉ có ở con người. Quá trình chơi diễn ra ở 2 cấp độ: cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động.
Với tư cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, được điều khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi. Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác. Hoạt động chơi là dạng chơi có ý thức, cả nội dung văn hóa xã hội, dựa trên các chức năng tâm lý cấp cao và chỉ có ở người, không có ở động vật. Trò chơi trong dạy học TCDH là những trò chơi GD được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay HS tìm kiếm và lĩnh hội tri 9 thức, học tập và rèn luyện kỹ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của HS khi họ tham gia trò chơi gọi là TCDH.
Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong TCDH được tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập. TCDH được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lý luận dạy học, đặc biệt là của lý luận dạy học các môn học cụ thể. Lý luận về trò chơi trong dạy học 2. Phân loại trò chơi trong dạy học Theo Đặng Thành Hưng (2002), căn cứ vào chức năng tâm sinh lý của con người là nhận thức, biểu cảm hay thái độ, và vận động, TCDH có 3 nhóm sau: Nhóm 1: Trò chơi phát triển nhận thức.
Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực hoạt động nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình. Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ: + Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình, ghép hình theo hình dạng, theo màu sắc; trò chơi nhận dạng các đồ vật, con vật và đối chiếu các sự vật với mẫu, với vật thật, với mô hình, trò chơi phân biệt các sắc thái của màu, phân biệt các bộ phận đồng nhất và khác nhau giữa các sự vật; trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh. 10 + Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ trò chơi kể và tiếp nối các từ đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái: Trò chơi nhắc lại các âm, các nốt nhạc, trò chơi nhận lại các hình sau khi quan sát, nhớ lại dạy số, nhớ lại số lượng hay kích thức của vật. + Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các môn cờ khác nhau, các trò chơi xây dựng, lắp ghép mô hình, các trò chơi có vai (phóng tác), phân vai (theo chủ đề) và đóng kịch ; các trò chơi thi giải đố, thi tính toán; các trò chơi thực hiện những thuật toán như xếp đội hình, giải các bài tập theo chương trình; các trò chơi khoa học vui.
Nhóm 2: Trò chơi phát triển các giá trị Đó là những trò chơi có nội dung văn hoá, xã hội, trong đó các quan hệ chơi phóng tác hoặc lý tưởng hoá các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự.hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia. Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo các chủ đề, các trò chơi đóng kịch, các trò chơi dân gian có tính chất lễ hội, các trò chơi tập thể có tính chất liên hoan: Thi nấu cơm, thi kéo co, thi nhảy múa, thi đọc thơ, thi làm thơ; các trò chơi phóng tác những nghề nghiệp hay quan hệ xã hội. Chúng là môi trường giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp trẻ học và rèn luyện những kỹ năng xã hội, kỹ năng cộng tác… Một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người, khả năng giải đáp những tình huống khác nhau. Nhóm 3: Trò chơi phát triển vận động.
+ Hầu hết các trò chơi thể thao như chơi bóng, đá cầu, mang vác, leo trèo, chạy nhảy, nhảy dây, đuổi bắt, xếp hình bằng đội ngũ. 11 + Các trò chơi phóng tác có nội dung quân sự, lao động, dịch vụ đòi hỏi phải vận động thể chất và di chuyển cơ thể. Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi được chơi hơi khác những trò chơi vận động, nó có vi phạm rộng hơn. Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động phải tuân theo luật hay quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động.
Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động.