Chương 1: Khái luận về triết lý và tinh thần kinh doanh Chương 2: Triết lý và tinh thần kinh doanh của Trung Nguyên Chương 3: Những kinh nghiệm và tinh thần quý giá cho khát vọng thương hiệu Việt. 4 z CHƢƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ TRẾT LÝ VÀ TINH THẦN KINH DOANH 1.1- Khái quát về triết lý và tinh thần kinh doanh 1.1- Khái niệm triết lý và tinh thần kinh doanh 1.1- Khái niệm triết lý Triết lý là những tư tưởng có tính triết học (tức là sự phản ánh đã đạt tới trình độ sâu sắc và có khái quát cao) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hoạt động của con người.[6] Trong quá trình sống và hoạt động, con người luôn có xu hướng tổng kết những quan sát, kinh nghiệm của mình tạo nên những tư tưởng sâu sắc có tính triết học về bản chất của khách thể. Ví dụ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “ác giả ác báo”, “không thầy đố mày làm nên”…; triết lý của Phật giáo về cuộc sống nhân sinh; triết lý của Nho giáo về chính trị, đạo đức.2- Khái niệm triết lý kinh doanh Theo quy định tại Khoản 2 – Điều 4 – Luật doanh nghiệp 2005: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.”[10] Triết lý kinh doanh (TLKD) là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh (KD) thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hóa của các chủ thể KD và chỉ dẫn cho hoạt động KD.[6] Tuy nhiên, cần lưu ý rằng con đường chung của sự hình thành các TLKD là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đi đến các tư tưởng triết học về KD bằng TLKD; tác giả của các TLKD thường là những người hoạt động KD - doanh nhân từng trải. Các TLKD đều có tính nghề nghiệp cao; do vậy, không thể coi các quy luật và 5 z nguyên tắc triết học là TLKD.
Các triết lý về các lĩnh vực khác của thế giới như chính trị, tình cảm gia đình, tình yêu… đều không phải là TLKD. KD là một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp đầy khó khăn, phức tạp và thường xuyên biến đổi… TLKD rất phong phú và có nhiều loại khác nhau. Có thể phân loại theo nhiều tiêu chí, nếu dựa vào quy mô của các chủ thể KD - quy mô tổ chức người ta có thể chia TLKD làm ba loại cơ bản: (1) Triết lý áp dụng cho các cá nhân KD; (2) Triết lý cho các tổ chức KD, chủ yếu là triết lý về quản lý của các DN; (3) Triết lý vừa có thể áp dụng cho các cá nhân lại vừa có thể áp dụng cho các tổ chức KD. Theo cách phân loại trên, TLKD của các cá nhân (loại 1) chính là các triết lý được rút ra từ những kinh nghiệm, bài học thành công và thất bại trong quá trình KD, có ích trước hết cho các cá thể KD.
Còn các triết lý (loại 2) và (loại 3) có thể trở thành triết lý chung của tổ chức KD, gọi là TLKD của DN, nói gọn hơn là TLDN hay triết lý công ty. Một nhà KD có thể vận dụng một TLKD khi người đó hoạt động ở quy mô cá nhân - cá thể KD để đem vào tổ chức DN của mình khi người đó đã trưởng thành, đã hoạt động với tư cách là nhà quản lý DN. Như vậy, sự phân loại các TLKD chỉ có tính tương đối. Tuy nhiên, TLKD chỉ có giá trị phổ quát khi nó áp dụng được trong các DN.