lời mở đầu: “an trụ đại Thiền định, hàng phục các ma đạo” [62, tr. Thiền nói đủ là Thiền - na (Dhyàna) có nghĩa là tĩnh lự, tĩnh là an tĩnh, lự là tư lự, suy xét, tức là tiêu trừ những sự tán loạn, vọng động, làm cho trong tâm được an trụ. ai chữ “Tĩnh lự” ở đây đồng nghĩa với hai chữ “Định huệ”, Tĩnh tức là Định, lự tức là uệ. Định và uệ tương ứng nên tâm được vắng lặng sáng suốt và phát ra năng lực mạnh mẽ: Thần thông, biện tài không có thứ nào là không đầy đủ, nên có thể hàng phục hết thảy các ma đạo.
Trong kinh này gọi là đại thiền định là để phân biệt thiền định của Phật với thiền định của ngoại đạo và các loại thiền định đương thời. Thiền định Phật giáo luôn quân bình chỉ và quán không rơi vào thuần túy định tâm (chỉ), mà định tâm là điều kiện tốt cho sự quán chiếu sâu vào lòng sự vật. Vì vậy, thiền định Phật giáo không dừng lại ở các trạng thái của định mà luôn 19 luôn vượt qua, không vướng vào các giai đoạn của tâm định. Thiền định Phật giáo gắn bó với đời sống thực tiễn và nó có công dụng cải hóa cá nhân và xã hội.
Do vậy mà gọi là đại thiền định có công năng hàng phục chúng ma. Và trong chương 19 của kinh thậ nh chương có nói đến sự quán niệm về vô thường (quán thế giới niệm vô thường, quán thiên địa niệm vô thường). Ðây cũng là một hình thức thiền định, gọi là vô thường quán. Theo quan niệm này thì vũ trụ vạn vật chung quanh ta là đối tượng tiếp xúc của các giác quan và ý thức.
Ta luôn luôn thấy nó bền vững, chắc thật như tảng đá, ngọn núi, bầu trời, trái đất. Chúng ta dễ dàng thấy sự vô thường của bọt nước, của ánh chớp, của sương mai. nhưng ít khi chúng ta thấy rõ sự vô thường của các thiên hà, của những hiện tượng lớn trong vũ trụ. Vì vậy, phải thấu triệt bản chất của vũ trụ vạn vật từ lớn cho đến nhỏ đều vô thường.
Thấy sự vô thường một cách toàn diện của mọi sự vật là ta đã có trí tuệ, rất gần với sự giải thoát. Triết lý Thiền tông là lời Đức Thế tôn diễn thuyết được tập hợp trong các bộ kinh điển về quy luật hằng thường, về lẽ sinh, trụ, dị, diệt. Trong rất nhiều giáo lý của nhà Phật thì “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “ át chánh đạo” là những triết lý cơ bản ngay từ ngày đầu Phật giáo hình thành nhưng lại được phái Thiền Tông tiếp thu đầy đủ và thể hiện một cách uyên áo rồi ăn sâu vào đời sống nhân dân, gắn chặt với cuộc sống trần gian, nhiều lúc nó trở thành nguồn an ủi vỗ về mặt tinh thần của con người. Thiền tông là sản phẩm của đất Trung oa, (nó là sự kết hợp giữa đại thừa Ấn Độ với Lão Trang và văn hóa Trung Hoa), mà gần một nghìn năm đầu, nước ta nội thuộc Trung uốc, vậy văn hóa của họ, đặc biệt là Thiền Tông, không thể không ảnh hưởng đến nước ta.
Thiền tông với phương châm: “ ất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, phương châm này ph hợp với người dân Việt Nam [28, tr. Trong các tông phái Phật giáo, Thiền tông có quan niệm về nhập thế rõ ràng hơn cả. Một vị tổ Thiền đã đưa ra phương châm “một ngày không làm, một ngày không ăn” [28, tr. Sang Việt Nam thiền còn nhập thế tích cực hơn 20 nữa.
Điều đó thể hiện trong việc đánh giặc cứu nước cũng là Thiền, chống úng cũng là phật sự có lẽ cũng chính vì vậy mà Thiền đáp ứng được nhu cầu đời sống tâm linh, đáp ứng được nhiệm vụ dựng nước và giữ nước của người Việt. Ngay Thiền tông khi sang Việt Nam cũng được Việt hóa và mang một màu sắc, đặc điểm mới. Phật giáo ở Trung uốc có rất nhiều tông phái, mà Thiền là chỉ một trong số đó. Trong Thiền Trung uốc, ban đầu có Lão, về sau có thêm cả Nho và và văn hóa Trung oa nói chung.
Nhưng sự tổng hợp tam giáo ở Trung uốc khác với Việt Nam. “Ở Trung uốc đồng nguyên tam giáo luôn dựa trên Nho giáo, lấy Nho giáo làm nền tảng; trong khi đó ở Việt Nam lại khác, đồng nguyên tam giáo là cụ thể là lần thứ nhất vào thế kỷ thứ II, III, và lần thứ hai vào thời Lý - Trần nó lại dựa trên cơ sở Phật giáo mà chủ yếu là Thiền Tông” [28, tr 391]. Về phương diện tu hành tôn giáo, các vị tổ Thiền tông đã đưa ra những biện pháp, cách thức để dẫn dắt môn đồ trên con đường hướng đến giải thoát. Những biện pháp, cách thức đó thể hiện ở vấn đáp, niệm tụng, các công án như nói ngược lại, nói vượt qua, nói quyết, nói nhại, lý luận vòng tròn, im lặng, hét, đánh, cấu, véo, đạp.
Những cái đó được đề cặp đến trong Lâm tế ngữ lục, ích nham tập, Võ môn quan,. Một số phương pháp đó được các Thiền sư Việt Nam sử dụng, thậm chí còn sớm hơn Trung uốc. Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để kh ng định quyền tự chủ tự cường của một đất nước. Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình.
Và Phật giáo Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử. Nếu Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tống thì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và ưng Đạo Vương.
Xưa nay, các bậc đế vương thâu phục giang sơn bằng con đường gươm đao, chế ngự dân bằng quyền hành, bạo lực. Còn thời đại Lý – Trần thì khác, lên ngôi vua không hề có một 21 giọt máu rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và cũng không nghe dân tình than oán. Sức mạnh nào đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh h ng cường, có phải chăng chính đức từ, bi, hỷ, xả của nhà Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân. Nói chung, các ông vua Phật tử thuần thành đời Lý và đời Trần đều có tấm lòng thương yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật.
Đường lối lấy đức trị dân của hai triều đại Lý – Trần đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc Việt Nam. Song, điểm đặc sắc của hai triều đại Phật giáo Lý – Trần là ngoài những ông vua Phật tử thuần thành, còn có những ông vua kiêm Thiền sư, kiêm là những nhà Phật học uyên bác, viết sách, giảng kinh, không khác gì các cao Tăng thạc đức. Có thể kể Lý Thái Tông, học trò đắc pháp của Thiền sư Thiền Lão, và được dự vào hàng Tổ thứ bảy của dòng thiền Vô Ngôn Thông. Lý Thánh Tông được tuyền thừa làm Tổ thứ 2 của Phái Thiền Thảo Đường, và đặc biệt là hai ông vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là một trong những ngôi sao sáng của Phật giáo thời đó.
Vua Trần Thái Tông là tác giả cuốn Khóa ư Lục, một tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ án Nôm, đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản nhiều lần. Cuốn sách chứa nhiều tư tưởng độc đáo. Như tư tưởng xem mọi người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà không tự biết. Ông viết trong bài Niệm Phật Luận: “Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng”.
Lại viết tiếp: “Tướng Phật là tướng ta không phải hai, lặng vậy mà thường tồn tại, tồn tại mà không biết. Đó là Phật sống vậy”. Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là Phật sống. Và điểm nổi bật của Phật giáo thời Lý – Trần là nó cung cấp một triết lý sống, chứ không phải là những tín điều chết, các Thiền sư thời Lý – Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó bằng cả cuộc sống của chính mìmh.
Đạo Phật đời Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều, không vướng mắc vào hình thức, không bó hẹp trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm lẽ sống, d người đó là vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân bình thường. Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm 22 mình, chuyển hóa tâm và sử dụng tâm cho tốt. Trong “Khóa ư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng”. Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo.
Thậm chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình. Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của Đạo Đức Phật giáo. Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào. Cơ sở xã hội, nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần 1.