Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề trí tuệ cảm xúc 1. Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở nước ngoài Ngay từ những năm 1920 E.L Thorndike giáo sư tâm lý học ở trường Đại học tổng hợp Columbia là người đầu tiên tìm cách nhận dạng TTCX, đã sử dụng khái niệm “hiểu biết xã hội”.
Theo ông, trí tuệ xã hội là “Năng lực hiểu và kiểm soát mà một người đàn ông, đàn bà, con trai, con gái dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ của con người” (Daniel Goleman, 2003). Đó là một dạng năng lực mà sự có mặt của nó rất đa dạng từ nhiều công việc khác nhau như của người y tá, người gác cổng trong doanh trại, trong nhà máy, quầy bán hàng, nhưng nó cũng có những điều kiện được tiêu chuẩn hoá một cách chính thức ở phòng thí nghiệm. Từ đó, một số phương pháp đánh giá trí tuệ xã hội trong phòng thí nghiệm đã được đề nghị bởi E. Thorndike tuy nhiên đó là một quá trình giản đơn: làm cho có sự phù hợp giữa những bức tranh có khuôn mặt biểu lộ các cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng những xúc cảm đó.
Năm 1937, Robert Thorndike và Saul Stern xem xét những cố gắng đo lường của E. Thorndike đưa ra 3 khu vực khác nhau kề cận với trí tuệ xã hội có thể liên quan đến nó và thường nhầm lẫn với nó, đó là: Khu vực thứ nhất là thái độ cá nhân đối với xã hội. Khu vực thứ hai là sự hiểu biết xã hội: những vấn đề đương đại và những thông tin chung về xã hội. Khu vực thứ ba là mức độ điều chỉnh xã hội của cá nhân: hướng nội và hướng ngoại được đo bằng những câu trả lời đối với các phiếu hỏi.
Sau đó, hai ông đã đưa ra nhận định rằng, những cố gắng đo lường năng lực ứng xử với mọi người đã ít nhiều thất bại. Điều đó có thể là do trí tuệ xã Luan van 9 hội là một phức hợp gồm một số các năng lực khác nhau hoặc một phức hợp của một số lớn các thói quen và thái độ xã hội cụ thể. Sau đó David Weschler (1940) đã đề cập đến yếu tố “phi nhận thức” (non- intellective) là yếu tố quan trọng cho con người trong việc thích nghi và đạt được những thành tích trong cuộc sống. Ông viết “Câu hỏi chính đặt ra là yếu tố “phi nhận thức” có thể được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung? Luận điểm của tôi đã đưa ra rằng những yếu tố này không chỉ được thừa nhận mà còn rất cần thiết.
Tôi đã cố gắng chỉ ra rằng những yếu tố “phi nhận thức” không chỉ được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung mà còn quyết định hành vi thông minh. Đến năm 1955, Albert Ellis đưa ra một liệu pháp tâm lý – liệu pháp hành vi cảm xúc chuẩn bắt đầu bằng ba chữ ABC. Phương pháp này giúp con người kiểm soát cảm xúc của họ một cách có ý thức và mang tính logic. Lý thuyết của ông đã mang lại những đóng góp khá quan trọng.
Cho đến tận năm 1983, Howard Gardner là người đã có công lớn trong việc xem xét lại lý thuyết TTCX trong tâm lý học. Ông cho ra đời tác phẩm “Frames of Mind” và đưa ra mô hình trí tuệ nổi tiếng và cho rằng trí tuệ cá nhân gồm có hai loại: trí tuệ liên nhân cách và trí tuệ nội nhân cách. Trong quan sát của H. Gardner, các kiểu trí tuệ truyền thống như IQ, không thể giải thích một cách đầy đủ khả năng nhận thức của con người.
Reuven Bar – On (1985), nhà tâm lý học người Israel (quốc tịch Mỹ). Luận án tiến sĩ của ông lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ EQ (Emotional Intelligence Quotient). Sau đó, ông xuất bản tập EQ (Emotional Quotient Intelligence, 1997) – trắc nghiệm đầu tiên về TTCX. Ông đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp với sự thành công trong cuộc sống bao gồm: Luan van 10 Các kỹ năng làm chủ xúc cảm của mình Các kỹ năng điều khiển xúc cảm liên cá nhân Tính thích ứng Kiểm soát stress Tâm trạng chung Nối tiếp vào năm 1990, hai nhà Tâm lý học Peter Salovey giảng dạy tại trường Đại học Yale và John Mayer thuộc trường Đại học New Hampshire đã công bố lý thuyết TTCX trong bài báo “trí tuệ cảm xúc”.
Sau một thời gian nghiên cứu, năm 1997 Salovey và Mayer đã chính thức chỉnh sửa định nghĩa TTCX “TTCX như là năng lực nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hoà xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác”. Dựa trên định nghĩa này mô hình TTCX được xác định. Năm 1995, Daniel Goleman, Tiến sỹ tâm lý học Đại học Harward, người phụ trách chuyên mục khoa học tờ Time, đã tập hợp những kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và viết thành cuốn sách gây tiếng vang lớn ở Mỹ với nhan đề: “Trí tuệ cảm xúc: tại sao nó lại có thể quan trọng hơn IQ (chỉ số thông minh) đối với tính cách, sức khỏe và sự thành công trong suốt cuộc đời?” (Emotional Intelligence – Why it can matter more than IQ for Character, Health and Lifelong Achievement?) đây là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên toàn thế giới và đã mở ra những hướng nghiên cứu về cách đo đạc chỉ số EQ khác nhau. Ông khẳng định rằng: “Chúng ta có hai hình thức khác nhau của trí tuệ: trí tuệ lí trí và TTCX.
Cách chúng ta hướng dẫn cuộc sống của mình được quyết định bởi hai loại trí tuệ ấy. TTCX cũng quan trọng như IQ. Trên thực tế không có TTCX thì trí tuệ lí trí không thể hoạt động một cách thích đáng” (Daniel Goleman, 2002). Luan van 11 Mô hình TTCX do D.
Goleman đề xuất là một mô hình hỗn hợp gồm 5 lĩnh vực: Hiểu biết về xúc cảm của mình (Knowing one’s emotion) Quản lý xúc cảm (Managing emotions) Tự thúc đẩy/ động cơ hoá mình (Motivating oneself) Nhận biết xúc cảm của người khác (Recogninzing emotions in others) Xử lý các mối quan hệ (Handling relationships) Có thể nói D. Goleman là tác giả lớn của hàng loạt sách khác nhau về TTCX như: “TTCX: làm thế nào để biến những cảm xúc của mình thành trí tuệ” (1997), đề cập đến vai trò của TTCX đối với sự phát triển nhân cách và cách rèn luyện TTCX, “TTCX ứng dụng trong công việc” (1998), “Nghệ thuật lãnh đạo cơ bản: việc nhận thấy sức mạnh của EI” (2002), “Những xúc cảm dễ bị phá vỡ: làm thế nào để vượt qua” (2003), “TTCX - ứng dụng trong công việc” (2007)… Những cuốn sách và những bài báo của D. Goleman đã được đông đảo bạn đọc trên thế giới quan tâm. Những nghiên cứu của ông không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất của TTCX mà còn tìm ra những biện pháp giáo dục nó một cách hiệu quả.
Năm 2002 Mayer, Salovey và Caruso thiết kế trắc nghiệm MSCEIT để đo lường TTCX, liên quan đến quá trình xử lý thông tin cảm xúc mà không nhất thiết hiểu rõ chúng. Thang này đo lường bốn thành tố: nhận thức về xúc cảm, xúc cảm hóa tư duy, hiểu biết xúc cảm và điều khiển, kiểm soát xúc cảm. Như vậy trên thế giới có ba đại diện tiêu biểu nghiên cứu về TTCX: - Reuwen Bar – On đã xem xét TTCX trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa ra mô hình Well – being, trong đó nhân cách là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và ông tiếp cận TTCX theo mô hình hỗn hợp bằng cách hoà trộn vào TTCX những đặc tính phi năng lực. Salovey đã xây dựng nên mô hình TTCX thuần năng lực, chú ý vào khái niệm hạt nhân của TTCX, đó chính là các cảm xúc và sự tương tác giữa cảm xúc và ý nghĩ.
Hai tác giả cũng cho thấy những năng lực nhằm đáp ứng và đòi hỏi luôn thay đổi của hoàn cảnh có liên quan chặt chẽ với TTCX. - Daniel Goleman nghiên cứu TTCX theo lý thuyết hiệu quả thực hiện công việc và mô hình TTCX mà ông đề xuất là mô hình kiểu hỗn hợp bao gồm các năng lực tâm lý và các phẩm chất nhân cách. Mô hình này có độ dự đoán rất cao. Những nghiên cứu của ông không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất của TTCX mà còn đưa ra những biện pháp để giáo dục TTCX.
Nhìn một cách tổng thể có thể nói ba đại diện tiêu biểu trên đã đi sâu nghiên cứu TTCX dưới những cách tiếp cận khác nhau. Trong đó Reuwen Bar – On đã tiếp cận TTCX dưới góc độ nhân cách, J. Salovey thì từ góc độ nhận thức và đại diện tiêu biểu còn lại Daniel Goleman thì nghiên cứu dưới góc độ hiệu quả công việc. Một số công trình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” còn khá mới mẻ tuy nhiên đã được các nhiều nhà tâm lý quan tâm và nghiên cứu.
Các tài liệu về TTCX vẫn còn ít và chủ yếu được dịch từ các tác giả nước ngoài. Năm 1997, thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” bắt đầu được đề cập tại một hội thảo của các nhà nghiên cứu thuộc chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX- 07 do GS.Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm. GS Phạm Minh Hạc đã đề nghị các nhà Tâm lý học Việt Nam khởi xướng nghiên cứu vấn đề TTCX ở Việt Nam trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Tiếp sau đó vào năm 2000, tạp chí Tâm lý học có bài viết của tác giả Nguyễn Huy Tú với nhan đề: “TTCX– bản chất và phương pháp chẩn đoán”, bài báo “Trí tuệ theo quan điểm mới, đánh giá và giáo dục”, trên Tạp chí Giáo dục số 3/2003 và bài báo trên tạp chí Thông tin khoa học giáo dục tháng 1/2003 “TTCX và sự thành công của nhà quản lý, lãnh đạo”.
Luan van 13 Tác giả Nguyễn Công Khanh với bài báo “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu trí thông minh xúc cảm” Tạp chí Tâm lý học, số 11/2002. (Nguyễn Công Khanh , 2002), hay Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chỉ số trí tuệ IQ, CQ và EQ ở lứa tuổi học sinh phổ thông trên Tạp chí giáo dục, số 2, 2005; Nghiên cứu TTCX ở học sinh trung học phổ thông trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 142;….Tác giả Ngô Thị Kim Dung với bài viết: “ Stress và những giải pháp giảm stress ở cán bộ quản lí, tạp chí Tâm lí học số 5 năm 2010…(Ngô Thị Kim Dung, 2010).