Chương 1: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn - Chương 2: Trách nhiệm xã hội của các khách sạn thuê thương hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội - Chương 3: Kinh nghiệm và những đề xuất nâng cao trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 1.1 Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) gọi tắt là CSR. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn nhận CSR dƣới những góc độ riêng và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình.
Keith Davis (1973) đƣa ra một khái niệm khá rộng: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”[21] Trong khi đó, Caroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi trong mỗi thời điểm nhất định”[16] Theo nhƣ Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”[21]. Ngoài ra, có một số quan điểm chính thức của CSR nhƣ sau: + Theo nhƣ chính phủ Anh: “CSR là hành động do doanh nghiệp tự nguyện thực hiện, ngoài việc tuân thủ các quy định pháp lí tối thiểu nhằm thỏa mãn nhu cầu cạnh tranh của doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội”[21] + Còn theo Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững: “CSR là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong khi cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng và xã hội”[21] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Theo HSBC: “CSR là quản lý công việc kinh doanh của chúng ta một cách có trách nhiệm và nhạy cảm, vì mục tiêu thành công dài hạn. Chúng ta không bao giờ theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá, vì biết rằng thành công ngày mai phụ thuộc vào uy tín được chúng ta xây dựng từ hôm nay”[21] Về phƣơng diện quản lý nhà nƣớc, nhiều nƣớc đã thể chế hóa nội dung CSR vào các văn bản và quy định khác dƣới nhiều hình thức khác nhau.
Trên bình diện rộng lớn hơn, nỗ lực đƣa CSR trở thành một thông lệ quốc tế phổ biến đã trở thành hiện thực. Tóm lại, có thể đƣa ra khái niệm của Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững để thấy rõ hơn bản chất của CSR: “CSR- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cồng đồngvà cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội”[15] 1.2 Sự hình thành và phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Khái niệm “Trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1953. Đại diện nổi bật nhất của thuyết quản trị “Đại diện” là Milton Friedman. Ông đã cho rằng doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trƣờng là cạnh tranh trung thực và công bằng.
Theo ông: Ngƣời quản lý doanh nghiệp (thành viên của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc) là những ngƣời đại diện cho chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty. Họ đƣợc bầu hoặc thuê để dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã đƣợc thể hiện trong luật và các nguyên tắc đạo đức phổ biến. Đó chính là bản chất vìlợi nhuận (for-profit) của doanh nghiệp và ngƣời quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là chủ sở hữu của công ty đã lựa chọn họ làm đại diện. Do đó, nếu ngƣời quản lý công ty muốn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com anh ta có quyền thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và tình cảm của riêng mình, bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân nhƣng không đƣợc sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty nếu không đƣợc cổ đông ủy thác để làm việc đó.
Công ty vốn là chủ thể “vô tri vô giác” do con ngƣời tạo ra, do đó công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn có chỉ có con ngƣời mới có. Bởi vì chỉ có từng cá nhân con ngƣời mới có lƣơng tâm để nhận thức sự việc đúng- sai. Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nƣớc, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích cộng đồng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nƣớc mới có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả.
Cấu trúc tam quyền phân lập đã đảm bảo sự phân bổ đó đƣợc công bằng và có kiểm soát. Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ đem lại lợi nhuận tạo ra việc làm có thu nhập cho ngƣời lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nƣớc là đóng thuế. Trách nhiệm của nhà nƣớc là làm sao sử dụng tiền thuế đó có hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng.
Nhƣ vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành ngƣời vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao. Ngƣời quản lí doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hơn là một ngƣời đại diện cho lợi ích của cổ đông. Mặt khác, kể cả khi một ngƣời quản lí doanh nghiệp đƣợc sử dụng nguồn lực của công ty để thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên phán đoán chủ quan của mình, thì không có gì đảm bảo rằng đó là quyết định sáng suốt cho mục tiêu xã hội cuối cùng vì anh ta không phải là chuyên gia xã hội mà là một chuyên gia quản lý và kinh doanh. Đó cũng là lý do mà các cổ đông cử anh ta làm đại diện và gửi gắm niềm tin trong việc quản lý doanh nghiệp.
Do đó nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ đông có thể làm với tƣ cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công ty mà không nên thông qua công ty và những ngƣời quản lý công ty. Từ quan điểm này, trƣờng phái phản đối CSR cho rằng các chƣơng trình của doanh nghiệp lấy tên là “Trách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm xã hội” chỉ là những chƣơng trình PR đạo đức giả mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi. Những ngƣời ủng hộ CSR thì không bác bỏ hoàn toàn những lập luận trên nhƣng họ cũng đƣa ra một lập luận khác hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động đã là chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực xã hội và môi trƣờng. Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình trƣớc xã hội.
Henry Mintberg đã lấy ví dụ công ty Dow Chemicals quyết định bán chất napal cho quân đội Mỹ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, để lại hậu quả nặng nề cho hàng triệu nạn nhân chất độc màu da cam. Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà ngay từ đầu doanh nghiệp đã đóng vai trò là công dân trong xã hội với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong nó. Thật vậy, nếu chỉ nhìn nhận đơn giản khi cho rằng doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận và bù đắp lại chi phí xã hội, cũng nhƣ trả tiền cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hƣởng lợi thông qua việc đóng thuế, chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm môi trƣờng và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (nhƣ trƣờng hợp công ty Vedan). Doanh nghiệp không thể kêu gọi sự trung tính của mình.
Tất cả sự kiện của doanh nghiệp nhƣ khai trƣơng dòng sản phẩm mới, đặt một nhà máy, đóng cửa một chi nhánh. đều kéo theo những hệ quả xã hội nhất định. Do vậy, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất xã hội và kinh tế khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp. Và ngƣời quản lý với tƣ cách là ngƣời quản lý doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mình vì chính doanh nghiệp.
Trách nhiệm của họ không phải việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội mà là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp nhƣ một thành viên đầy đủ trong đó. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức, bỏ quên các tác động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội còn vì lợi ích tăng trƣởng và phát triển bền vững của chính mình. Điều tra của Bowman và Haire từ năm 1973 đã cho thấy nhóm công ty cam kết với CSR có tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cao hơn các công ty khác (14,7% so với 10%).
Khác mô hình công ty gia đình trƣớc kia, doanh nghiệp hiện đại thƣờng là các công ty cổ phần đại chúng. Hoạt động đa ngành nghề, đa quốc gia. Do đó, ngày nay doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong môi trƣờng đơn nhất đƣợc giám sát bởi các cơ chế thị trƣờng thuần túy kinh tế (giá cả, cạnh tranh, thị trƣờng.