Chương 1: Cơ sở khoa học về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động. Chương 2: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại công ty cổ phần may Hòa Thọ Phú N inh, Quảng N am. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại công ty cổ phần may Hòa Thọ Phú N inh, Quảng N am. PHẦ III: KẾT LUẬ VÀ KIẾ GHN SVTH: guyễn Thị Thu Uyên 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Bùi Văn Chiêm PHẦ II ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TRÁCH HIỆM XÃ HỘI CỦA DOA H GHIỆP ĐỐI VỚI GƯỜI LAO ĐỘ G 1. Khái niệm về trách nhiệm xã hội N ăm 1923 thuật ngữ TN XH của DN xuất hiện bởi Oury Shelon. Ông cho rằng: “TN XH của DN được đặt trong mối quan hệ giữa DN với N LĐ thông qua việc DN đáp ứng đầy đủ nhu cầu của N LĐ trong và ngoài DN ”.
N hưng cho đến năm 1953 trong cuốn sách “Trách nhiệm của doanh nhân” H.Bowen mới chính thức tạo nền móng cho lý thuyết TN XH của DN bằng chính những luận giải sắc nét kêu gọi doanh nhân quan tâm đến mối quan hệ giữa DN và các mục tiêu của xã hội. Theo đó, TN XH là đề cập đến nghĩa vụ của DN để theo đuổi các chính sách, thực hiện những quyết định, hành động được kỳ vọng để đạt được các mục tiêu và giá trị của xã hội. Cùng với thời gian, các khái niệm về TN XH được các học giả nước ngoài và trong nước phát triển theo hướng mở rộng và cụ thể hóa nội hàm của nó: N ăm 1970, Friedman M. Cho ra đời công trình “CSR làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp” khẳng định vai trò to lớn của CSR.
Sethi (1975) và Carroll (1999) đều có chung một quan điểm là TN XH của DN không phải quy tắc bất biến, nó sẽ thay đổi để phù hợp với kỳ vọng của xã hội. TN XH là một khái niệm “động” và có sự thích nghi trong mỗi giai đoạn. Trong đó Carroll (1999) cho rằng: “TN XH của DN là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi tại một thời điểm nhất định.” Từ thế kỷ 21 nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề môi trường và phát triển bền vững khi nói đến khái niệm TN XH. Các chuyên gia của N gân hàng thế giới (2003) nhận định: “TN XH của DN là sự cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của N LĐ và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo hướng có lợi cho các DN cũng như sự phát triển chung của xã hội”.
SVTH: guyễn Thị Thu Uyên 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Văn Chiêm N goài định nghĩa của N gân hàng thế giới, có thể nêu ra một số định nghĩa khá sâu sắc như định nghĩa của Maignan và Ferrell, năm 2004: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”. Định nghĩa của Kotler và Lee, năm 2008, cho rằng “CSR là sự cam kết cải thiện phúc lợi cộng đồng thông qua các hoạt động kinh doanh tự nguyện và sự đóng góp các nguồn lực của doanh nghiệp”. Các định nghĩa về CSR ở trên cho thấy, dù hình thức thể hiện hay ngôn từ diễn đạt có khác nhau, song nội hàm của CSR về cơ bản đều có điểm thống nhất chung là: bên cạnh với việc phát triển lợi ích riêng, tìm kiếm lợi nhuận, phát triển danh tiếng,.
thì doanh nghiệp vẫn luôn gắn kết với sự phát triển bền vững chung của cộng đồng xã hội. Khái niệm người lao động N gười lao động là chủ thể quan trọng trong doanh nghiệp. Họ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển trong mỗi DN. Có một số quan điểm khác nhau về người lao động: Từ điển Kinh tế học (2006) định nghĩa: “N gười làm thuê hay người lao động là người được người khác hoặc DN thuê để cung cấp dịch vụ lao động với tư cách là đầu vào”.
Theo quan điểm của Kinh tế chính trị: “N gười lao động là người trực tiếp cung cấp sức lao động - một yếu tố sản xuất mang tính quyết định và cũng là một dạng dịch vụ/hàng hóa đặc biệt của nền sản xuất xã hội”. Phân loại người lao động: Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp - Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phNm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp được phân thành các loại: SVTH: guyễn Thị Thu Uyên 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Bùi Văn Chiêm + Lao động tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. + Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu được trưởng thành do học hỏi từ thực tế. - Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này được chia thành: N hân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động gián tiếp được phân thành các loại: + Chuyên viên chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp. + Chuyên viên: Cũng là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối cao. + Cán sự: Gồm những người mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chưa nhiều. + N hân viên: Là những người lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trường lớp chuyên môn, nghiệp vụ hoặc chưa qua đào tạo.
Theo nguồn gốc sử dụng năng lượng vận hành công cụ lao động bao gồm: Lao động thủ công, lao động nửa cơ giới, lao động cơ giới, lao động hệ thống máy – thiết bị tự động hóa. Theo tính chất quan hệ lao động: Lao động tự do (lao động tự sản xuất kinh doanh), lao động làm thuê (làm công ăn lương). Theo tính chất của hợp tác lao động: Lao động cá nhân, lao động tập thể. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động Trách nhiệm xã hội đối với N LĐ là trách nhiệm đối với bên liên quan quan trọng nhất của DN.
Khái niệm về TN XH đối với N LĐ đã được đề xuất bởi các tác giả khác nhau, có thể kể đến: SVTH: guyễn Thị Thu Uyên 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Văn Chiêm Theo Thái Thị Hồng Minh (2007): “TN XH trong lĩnh vực lao động được hiểu là việc các DN thực hiện quyền lợi dành cho cán bộ, công nhân viên, N LĐ nói chung trong DN ”. Quyền lợi này chính là sự quan tâm đến HĐLĐ, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, sự tôn trọng, công bằng về tiền lương, tiền công, chăm sóc sức khỏe cũng như đời sống vật chất và tinh thần. Anber Abrabee và cộng sự (2014) nhận định: “TN XH đối với N LĐ là việc DN định hướng các hành vi của họ nhằm tuân thủ pháp luật, đảm bảo lợi ích kinh tế theo hướng hài hòa lợi ích của N LĐ và theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững”.
N ghĩa là để N LĐ được làm việc trong những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần thì tuân thủ pháp luật, đảm bảo các lợi ích cho N LĐ là phương cách hữu hiệu giúp hài hòa lợi ích của N LĐ và phát triển bền vững của DN. Lê Thị Hướng (2017) khẳng định: “TN XH đối với N LĐ là việc đảm bảo lợi ích chính đáng cho N LĐ”. Để đảm bảo lợi ích chính đáng cho N LĐ, trước hết DN có trách nhiệm chấp hành nghiêm các văn bản luật liên quan đến lao động, ngoài ra DN cũng có trách nhiệm đáp ứng những lợi ích cao hơn ngoài phạm vi luật định. Sự cần thiết của việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp Phần nhiều các tập đoàn nước ngoài đang hoạt động tại Việt N am thực hiện TN XH chủ yếu do được thừa hưởng chính sách, chương trình từ tập đoàn mẹ.
Bên cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp như các định nghĩa về TN XH nói trên, các doanh nghiệp thực hiện các chương trình hướng tới cộng đồng, xã hội còn vì một số lý do. Đầu tiên, các doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Ví dụ, khi gia công giày cho Adidas hay N ew Balance, các công ty phải tuân thủ các quy định mà khách hàng này đưa ra như không sử dụng lao động trẻ em, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và các yêu cầu về môi trường. N hững yêu cầu này thường được cụ thể hóa trong những bộ quy tắc ứng xử trách nhiệm xã hội như SA 8000.
Thứ hai, thực hiện CSR là chiến lược để các công ty quản lý rủi ro và tạo sự đồng thuận xã hội. Thông thường công ty sẽ đối mặt với hai loại rủi ro chính: (1) rủi ro xã hội – là những rủi ro mà công ty có thể gây ra cho cộng đồng sinh sống xung quanh như tiếng ồn, khói, bụi, cháy nổ; (2) rủi ro công ty – là rủi ro mà cộng đồng sinh sống xung quanh có thể gây ra cho công ty như biểu tình, chặn đường ra vào công ty, phá SVTH: guyễn Thị Thu Uyên 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.