Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Luật hình sự Việt Nam" (tên đề tài tại phần mở đầu ghi: "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam") được tác giả Vũ Văn Tư thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9.04), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Mạnh Hùng và TS. Nguyễn Trung Thành, bảo vệ năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Bối cảnh quốc tế và lập pháp trong nước: Trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân đã được ghi nhận tại nhiều điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước TOC, Công ước UNCAC, Nghị định thư về phòng chống buôn bán người, các văn kiện chống khủng bố) và được quy định trong luật hình sự của 119 quốc gia. Tại Việt Nam, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, lần đầu tiên quy định chính thức chế định TNHS của pháp nhân thương mại (PNTM) với 33 tội danh.
  • Bất cập lý luận và lập pháp: Là chế định mới chưa có tiền lệ tại Việt Nam, quy định về TNHS của PNTM nảy sinh nhiều hạn chế: nhận thức chưa thống nhất về việc PNTM là chủ thể của tội phạm hay chỉ là chủ thể chịu TNHS; cách thức xác định hành vi phạm tội và lỗi của PNTM; hệ thống hình phạt áp dụng; điều kiện truy cứu TNHS; phạm vi tội phạm chưa bao quát hết nghĩa vụ điều ước quốc tế (như Công ước phòng, chống khủng bố; Công ước chống mua bán trái phép chất ma túy năm 1988).
  • Thực tiễn áp dụng: Sau hơn 05 năm thi hành BLHS năm 2015, các cơ quan tiến hành tố tụng mới chỉ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử 02 vụ án hình sự liên quan đến PNTM dù vi phạm pháp luật của pháp nhân diễn ra phổ biến và nghiêm trọng.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình công bố trước và sau khi ban hành BLHS năm 2015 chủ yếu tiếp cận ở từng khía cạnh riêng lẻ hoặc khái quát, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, đồng bộ và chuyên sâu từ lý luận, pháp luật đến thực tiễn áp dụng quy định BLHS năm 2015 về TNHS của PNTM để đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích: Tìm ra các luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện lý luận và quy định pháp luật hình sự về TNHS của PNTM; xây dựng giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác định vấn đề kế thừa và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu; xây dựng câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu.
    2. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về TNHS của PNTM (khái niệm, cơ sở, nội dung, kỹ thuật lập pháp).
    3. Phân tích, bình luận quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (lịch sử và hiện hành) và đánh giá quy định pháp luật một số nước để rút ra kinh nghiệm.
    4. Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định BLHS năm 2015 về TNHS của PNTM, chỉ ra khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân; đề xuất yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp bảo đảm áp dụng.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác định 05 câu hỏi nghiên cứu và 06 giả thuyết nghiên cứu:

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Pháp nhân là chủ thể thực hiện tội phạm hay chỉ là chủ thể phải chịu TNHS? Nếu pháp nhân là chủ thể của tội phạm thì hành vi phạm tội và lỗi của pháp nhân được xác định như thế nào?
  2. TNHS của pháp nhân có khác TNHS của cá nhân không?
  3. Để xác định pháp nhân phạm tội và chịu TNHS cần những điều kiện nào? Có cần thiết giới hạn phạm vi về chủ thể và phạm vi về các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS không? Khi truy cứu TNHS của pháp nhân có loại trừ TNHS của cá nhân có liên quan hay không?
  4. Các loại hình phạt áp dụng đối với PNTM như thế nào là phù hợp?
  5. Các quy định của BLHS hiện hành về TNHS của PNTM cần được sửa đổi, bổ sung như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Pháp nhân hoàn toàn có thể thực hiện được tội phạm; việc xác định pháp nhân là chủ thể của tội phạm, chủ thể của TNHS và thực hiện hành vi phạm tội có lỗi không trái với lý luận về tội phạm.
  2. Về bản chất, TNHS của pháp nhân không khác biệt so với TNHS của cá nhân; có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định TNHS của pháp nhân trong luật hình sự.
  3. Việc xác định pháp nhân phạm tội phải căn cứ vào điều kiện chịu TNHS đặc thù, khác với điều kiện chịu TNHS của cá nhân.
  4. Pháp nhân không thể thực hiện mọi tội phạm như cá nhân, do đó cần thiết phải giới hạn phạm vi các tội mà pháp nhân có thể thực hiện và chịu TNHS.
  5. Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân là khả thi nhưng phải áp dụng các hình phạt phù hợp, không thể áp dụng hình phạt như đối với cá nhân.
  6. Chế định TNHS của PNTM trong BLHS năm 2015 đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhưng vẫn còn mâu thuẫn, hạn chế do tính chất mới mẻ, chưa có tiền lệ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm lý luận, học thuyết về TNHS của pháp nhân; quy định của pháp luật hình sự về TNHS của PNTM và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Toàn diện dưới góc độ khoa học luật hình sự và luật tố tụng hình sự (TTHS).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định TNHS của PNTM trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2011 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước qua các mốc thời gian và quan điểm tiếp cận:

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Nhóm quan điểm không ủng hộ TNHS của pháp nhân (trường phái cổ điển):
    • M.C. Von Savigny (1841, Traité de droit romain): Cho rằng tội phạm đòi hỏi hành vi khách quan (actus reus) và lỗi chủ quan (mens rea). Pháp nhân chỉ là thực thể trừu tượng, hành vi do người đại diện thực hiện loại trừ ý chí thực sự của pháp nhân.
    • Donnedieu De Vabres (1947, Traité de droit criminel et de législation pénale comparée): Khẳng định việc trừng phạt pháp nhân gây thiệt hại cho bên thứ ba vô tội; các hình phạt đặc trưng như tù, tử hình không thể áp dụng cho thực thể vô hình.
  • Nhóm quan điểm ủng hộ TNHS của pháp nhân (từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay):
    • Y. Mayaud (La volonté à la lumière du nouveau code pénal): Khẳng định pháp nhân có ý chí độc lập, không đơn thuần là phép cộng ý chí của các thành viên.
    • Án lệ Bolton (Engineering) Co. Ltd. v Graham & Son Ltd. (1957): Ví pháp nhân như con người có não bộ, hệ thần kinh trung ương và các chi hành động theo chỉ đạo.
    • Vụ việc Pharmaceutical Society v London and Provincial Supply Association (1880) và nghiên cứu của V. Simonart (1995): Chứng minh hình phạt đối với pháp nhân cần hướng vào tài sản, tư cách hoạt động (giải thể, đình chỉ hoạt động, phạt tiền), bảo đảm nguyên tắc công bằng.
    • Tập san của Linklaters (2016, Corporate criminal liability - A review of law and practice across the globe): Rà soát pháp luật tại 24 khu vực pháp lý (Bỉ, Singapore, Pháp, Hà Lan, Mỹ...). Tại Bỉ, phạt tiền là hình phạt chính; Singapore chỉ coi tổ chức là chủ thể chịu TNHS và không giới hạn phạm vi tội danh.
    • C.M.V. Clarkson (2005, Principle of Criminal Law): Trình bày Thuyết trách nhiệm thay thế trong luật Anh từ những năm 1800.
    • Gennady A. Esakov (2010, Corporate Criminal Liability: A Comparative Review): Phân tích Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm dựa trên hành vi và ý chí của người quản lý cấp cao.
    • Gert Vermeulen, Wendy De Bondt, Charlotte Ryckman (2012, Liability of Legal Persons for Offences in the EU): Phân tích nguyên tắc trách nhiệm kép (Điều 121-2 BLHS Pháp: TNHS của pháp nhân không loại trừ TNHS của thể nhân).
    • Silvia Rodríguez-López (2017): Nghiên cứu TNHS của pháp nhân đối với tội buôn bán người, các tình tiết định khung tăng nặng trong luật Mỹ, Anh, Tây Ban Nha.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015:
    • Phạm Hồng Hải (1999, Tạp chí Luật học): Đặt vấn đề pháp nhân là chủ thể tội phạm, đề xuất hình sự hóa vi phạm của pháp nhân trong lĩnh vực kinh tế, môi trường.
    • Cao Thị Oanh (2011, Đề tài khoa học cấp Bộ): Phân tích các học thuyết TNHS của tổ chức, khảo sát luật hình sự các nước common law, châu Âu lục địa, châu Á; kiến nghị bổ sung chủ thể tổ chức vào BLHS.
    • Trịnh Quốc Toản (2011, Sách chuyên khảo): Phân tích luật hình sự nước ngoài và đưa ra mô hình lý luận TNHS của pháp nhân tại Việt Nam.
    • Đề án nghiên cứu cấp Bộ năm 2014 của Bộ Tư pháp: Luận giải căn cứ thực tiễn, nghĩa vụ quốc tế, đề xuất các quy định đưa vào Dự thảo BLHS năm 2015.
    • Lê Cảm (2014, Tạp chí Tòa án nhân dân): Nghiên cứu các cách thức xác định TNHS và chế tài áp dụng cho pháp nhân.
  • Giai đoạn sau khi ban hành BLHS năm 2015:
    • Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2020, Sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại – Nhận thức cần thống nhất?"): Tập hợp các bài viết của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, PGS.TS. Nguyễn Văn Hương. Phân tích 3 nhóm quan điểm (pháp nhân là chủ thể tội phạm; pháp nhân là chủ thể TNHS nhưng nội dung thể hiện là chủ thể tội phạm; pháp nhân chỉ là chủ thể TNHS và bị coi là phạm tội), chỉ ra những mâu thuẫn trong kỹ thuật lập pháp của BLHS năm 2015.
    • Trịnh Tiến Việt (2021, Sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự"): Đưa ra định nghĩa TNHS bao gồm người hoặc PNTM phạm tội; đề xuất mở rộng tội danh PNTM phải chịu TNHS (mua bán người, an toàn thực phẩm, quản lý chất thải nguy hại).
Hướng tiếp cận Tác giả tiêu biểu Luận điểm then chốt
Phủ nhận TNHS pháp nhân M.C. Von Savigny (1841), Donnedieu De Vabres (1947) Pháp nhân là thực thể trừu tượng, không có tâm lý/lỗi; chế tài truyền thống (tù, tử hình) không tương thích.
Thuyết trách nhiệm thay thế C.M.V. Clarkson (2005), án lệ Anh Quy trách nhiệm cho pháp nhân từ hành vi phạm tội của người làm công thực hiện nhiệm vụ.
Thuyết đồng nhất hóa Gennady A. Esakov (2010), Cao Thị Oanh (2011) Đồng nhất hành vi và lỗi của người chỉ đạo, điều hành cấp cao với hành vi và lỗi của pháp nhân.
Thuyết hệ thống / văn hóa Nhóm nghiên cứu quốc tế Xác định lỗi thông qua việc đánh giá văn hóa tổ chức, sự buông lỏng kiểm soát, thiếu cơ chế tuân thủ.
Quan điểm lập pháp VN (BLHS 2015) Nguyễn Ngọc Hòa (2020), Trịnh Tiến Việt (2021) Quy định 33 tội danh PNTM chịu TNHS; tồn tại tranh luận giữa việc coi pháp nhân là chủ thể tội phạm hay chỉ là chủ thể chịu TNHS.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các luận điểm của Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm và tổng kết lập pháp quốc tế, tập trung giải quyết khoảng trống:

  1. Xây dựng khái niệm khoa học thống nhất về TNHS của PNTM.
  2. Làm rõ bản chất PNTM vừa là chủ thể của tội phạm, vừa là chủ thể chịu TNHS.
  3. Rà soát mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp trong BLHS năm 2015.
  4. Khảo cứu thực tiễn áp dụng giai đoạn 2011–2021 nhằm đề xuất giải pháp lập pháp và tố tụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Các học thuyết nền tảng:
    1. Học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability): Áp đặt TNHS lên pháp nhân đối với hành vi phạm tội của cá nhân làm công nhân danh pháp nhân mà không đòi hỏi chứng minh lỗi độc lập của pháp nhân.
    2. Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability): Coi hành vi và lỗi của người quản lý, điều hành (thể hiện "tư tưởng chỉ đạo và ý chí") chính là hành vi và lỗi của pháp nhân.
    3. Học thuyết hệ thống/văn hóa (Systems/Culture Theory): Xác định lỗi của pháp nhân thông qua văn hóa doanh nghiệp, việc không xây dựng hoặc duy trì các quy chế tuân thủ pháp luật.
  • Lựa chọn lý thuyết của tác giả: Luận án sử dụng Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm kết hợp với các yếu tố hợp lý của các học thuyết khác để giải thích cơ sở TNHS của PNTM trong bối cảnh pháp lý Việt Nam, khẳng định PNTM hoàn toàn có thể là chủ thể của tội phạm thông qua hành vi của người đại diện/điều hành.
  • Khái niệm do luận án xây dựng: "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp hình sự, án tích) mà pháp nhân đó phải gánh chịu đối với tội phạm được thực hiện và pháp nhân thương mại đó thoả mãn các điều kiện trách nhiệm hình sự quy định trong Bộ luật hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm này được thực hiện thông qua trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong pháp luật TTHS."

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng. Các phương pháp cụ thể gồm:

  1. Phương pháp phân tích, so sánh tài liệu: Phân tích văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam và quốc tế, các công trình khoa học chuyên khảo.
  2. Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các quan điểm lý luận, tổng kết các vướng mắc, nguyên nhân trong thực tiễn thi hành pháp luật.
  3. Phương pháp thống kê, phân tích số liệu thống kê tội phạm: Khảo sát, xử lý số liệu vi phạm pháp luật của pháp nhân và thực tiễn xử lý hình sự (2011–2021).
  4. Phương pháp tổng kết thực tiễn: Thu thập báo cáo thực tế từ các cơ quan tiến hành tố tụng về tình hình áp dụng BLHS năm 2015.
  5. Phương pháp điều tra điển hình: Đánh giá sâu 02 vụ án hình sự điển hình đã khởi tố, truy cứu TNHS đối với PNTM tại Việt Nam.
  6. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia lập pháp và cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tư pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: BLHS năm 1985, 1999, 2015 (sửa đổi 2017), BLTTHS năm 2015, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã.
  • Điều ước quốc tế: Công ước TOC, UNCAC, các hiệp định tương trợ tư pháp song phương.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm liên quan đến pháp nhân giai đoạn 2011–2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về TNHS của pháp nhân:

  • Điểm lại lịch sử lập pháp và các trường phái học thuyết trên thế giới từ thế kỷ XVIII đến nay; phân loại các nhóm nghiên cứu phủ nhận và thừa nhận TNHS của tổ chức.
  • Khảo sát các công trình trong nước trước và sau mốc thời gian ban hành BLHS năm 2015; chỉ ra sự thiếu đồng bộ trong việc gắn kết lý luận, quy định luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành.
  • Xác định 05 câu hỏi nghiên cứu và 06 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Chương 2 làm rõ các nội hàm lý luận cơ bản:

  • Đặc trưng PNTM: Là pháp nhân có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật, có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên (doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã).
  • Cơ sở quy định: Phân tích cơ sở chính trị (đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cải cách tư pháp của Đảng), cơ sở pháp lý (hiến định, nội luật hóa điều ước quốc tế) và cơ sở thực tiễn (đấu tranh chống vi phạm nghiêm trọng của doanh nghiệp).
  • Nội dung và kỹ thuật lập pháp: Làm rõ 4 thành tố: (1) Điều kiện chịu TNHS; (2) Phạm vi chủ thể; (3) Phạm vi tội phạm; (4) Hệ thống chế tài (hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Rút ra bài học từ mô hình của Pháp, Bỉ, Anh, Mỹ, Singapore về mở rộng phạm vi tội danh, áp dụng trách nhiệm kép và ưu tiên chế tài kinh tế, đình chỉ hoạt động.

Chương 3: Quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Chương 3 tập trung phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định:

  • Lịch sử lập pháp trước BLHS năm 2015: Phân tích các dấu vết quy định gián tiếp hoặc xử lý hành chính/dân sự đối với tổ chức vi phạm trước năm 2015.
  • Quy định của BLHS năm 2015:
    • Điều kiện chịu TNHS của PNTM (Điều 75 BLHS): Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM; vì lợi ích của PNTM; có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM; chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS; việc truy cứu TNHS PNTM không loại trừ TNHS của cá nhân.
    • Phạm vi 33 tội danh (Điều 76 BLHS): Tập trung vào nhóm tội phạm về kinh tế (Chương XVIII) và môi trường (Chương XIX).
    • Hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp: Hình phạt chính (phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn); hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính); các biện pháp tư pháp (tịch thu vật/tiền, khôi phục tình trạng ban đầu, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả).
  • Đánh giá hạn chế, bất cập: Chỉ rõ mâu thuẫn giữa quy định coi PNTM là chủ thể tội phạm hay chủ thể chịu TNHS; thiếu vắng quy định phân loại tội phạm đối với PNTM; chưa có hướng dẫn xác định lỗi cố ý/vô ý của pháp nhân; phạm vi 33 tội danh còn hẹp.

Chương 4: Thực tiễn, yêu cầu, giải pháp hoàn thiện và bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Chương 4 đánh giá thực trạng thi hành và đề xuất giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng: Phân tích thực trạng 10 năm (2011–2021), đặc biệt là sau năm 2018. Mặc dù vi phạm pháp luật của pháp nhân xảy ra nhiều, toàn quốc mới chỉ khởi tố, truy tố, xét xử 02 vụ án hình sự đối với PNTM.
  • Nguyên nhân hạn chế: Do quy định BLHS còn mâu thuẫn; chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành; năng lực cán bộ tiến hành tố tụng đối với loại chủ thể mới còn hạn chế; quy định tố tụng tại BLTTHS về biện pháp cưỡng chế, niêm phong tài sản pháp nhân còn vướng mắc.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện BLHS:
    • Sửa đổi, chuẩn hóa khái niệm tội phạm và chủ thể tội phạm trong phần chung BLHS.
    • Mở rộng phạm vi tội danh PNTM phải chịu TNHS (bổ sung các tội về mua bán người, tài trợ khủng bố, ma túy, an toàn thực phẩm).
    • Hoàn thiện điều kiện chịu TNHS và thang bảng phạt tiền tương xứng với quy mô doanh nghiệp.
  • Nhóm giải pháp bảo đảm áp dụng:
    • Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn thi hành Chương XI BLHS năm 2015.
    • Sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTHS về trình tự, thủ tục khởi tố, lấy lời khai người đại diện pháp nhân, áp dụng biện pháp ngăn chặn.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp khoa học mới của luận án

  1. Là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam về lý luận TNHS của pháp nhân, luận giải sâu sắc vị trí của PNTM dưới góc độ khoa học luật hình sự.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về TNHS của PNTM, chỉ ra các mâu thuẫn nội tại và điểm bất cập trong kỹ thuật lập pháp.
  3. Đánh giá khái quát thực tiễn áp dụng chế định TNHS của PNTM trên phạm vi toàn quốc (giai đoạn 2011–2021), làm rõ kết quả xử lý 02 vụ án thực tế cùng các nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong khởi tố, xét xử.
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gồm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

  • Về mặt lý luận: Bổ sung, làm giàu hệ thống lý luận luật hình sự Việt Nam về chủ thể tội phạm và TNHS; cung cấp cơ sở khoa học cho việc thống nhất nhận thức về lỗi và hành vi của pháp nhân; làm luận cứ cho hoạch định chính sách hình sự.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho các cơ quan lập pháp trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS; định hướng nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng pháp nhân thương mại (chưa nghiên cứu sâu về pháp nhân phi thương mại); số liệu thực tiễn xét xử đối với PNTM còn ít (02 vụ án được xử lý hình sự tính đến thời điểm nghiên cứu) do chế định mới đi vào cuộc sống, dẫn đến dung lượng án lệ thực tế chưa phong phú.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng chế định TNHS của PNTM khi số lượng vụ án gia tăng; nghiên cứu khả năng mở rộng chủ thể chịu TNHS sang pháp nhân phi thương mại; nghiên cứu chuyên sâu về các tội danh cụ thể mà pháp nhân thực hiện trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, an ninh mạng và sở hữu trí tuệ.

Giá trị tham khảo

  • Cơ quan lập pháp (Quốc hội, Ban soạn thảo luật): Tham khảo các đề xuất sửa đổi Điều 75, Điều 76 BLHS năm 2015 và các điều khoản liên quan trong BLTTHS.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án): Tham khảo phân tích về điều kiện xác định lỗi, hành vi và trách nhiệm kép để tháo gỡ vướng mắc khi thụ lý vụ án có pháp nhân tham gia.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa TNHS của pháp nhân thương mại như thế nào?

Luận án định nghĩa TNHS của PNTM là hậu quả pháp lý bất lợi thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp hình sự, án tích) mà pháp nhân đó phải gánh chịu đối với tội phạm được thực hiện khi thoả mãn các điều kiện chịu TNHS quy định trong BLHS, được thực hiện thông qua trình tự, thủ tục của pháp luật TTHS.

2. Tác giả lựa chọn học thuyết nào để giải thích cơ sở TNHS của pháp nhân?

Tác giả lựa chọn Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) kết hợp với các yếu tố hợp lý của các học thuyết khác, xem hành vi và lỗi của người chỉ đạo, điều hành nhân danh hoặc vì lợi ích của pháp nhân chính là hành vi và lỗi của pháp nhân.

3. Sau hơn 5 năm thi hành BLHS năm 2015, thực tiễn xét xử PNTM tại Việt Nam đạt kết quả như thế nào?

Theo số liệu tổng kết trong luận án, sau hơn 05 năm thi hành BLHS năm 2015, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cả nước mới chỉ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử 02 vụ án hình sự liên quan đến PNTM.

4. BLHS năm 2015 quy định bao nhiêu tội danh mà PNTM phải chịu TNHS?

BLHS năm 2015 quy định phạm vi 33 tội danh mà PNTM phải chịu TNHS, tập trung chủ yếu vào nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) và các tội phạm về môi trường (Chương XIX).

5. Luận án đề xuất mở rộng TNHS của PNTM sang những tội danh nào?

Luận án kiến nghị nghiên cứu mở rộng phạm vi tội danh PNTM phải chịu TNHS đối với các tội danh nhằm nội luật hóa điều ước quốc tế và đáp ứng thực tiễn như: Tội mua bán người, Tội phạm liên quan đến ma túy, Tội tài trợ khủng bố, Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Văn Tư là công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong pháp luật hình sự Việt Nam. Dựa trên việc phân tích Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm và khảo sát kinh nghiệm lập pháp quốc tế, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, chỉ ra những mâu thuẫn, khoảng trống trong BLHS năm 2015 và tổng kết thực tiễn 10 năm (2011–2021) áp dụng tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu và nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm do pháp nhân thực hiện.