Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề TNHS của pháp nhân chính thức được ghi nhận trong Luật hình sự của Cộng hòa Pháp từ thế kỷ thứ XVIII và tiếp tục được quy định trong Luật hình sự các nước theo truyền thống pháp luật “common law” từ thế kỷ thứ XIX. Ngày nay vấn đề này đã được quy định trong Luật hình sự của 119 nước trên thế giới [3].
Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống pháp luật mà ở mỗi quốc gia có những quan điểm, quy định khác nhau về TNHS của pháp nhân trong Luật hình sự. Mặc dù như vậy nhưng khi bàn về TNHS của pháp nhân vẫn còn những ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới, có quan điểm ủng hộ nhưng cũng có quan điểm phản đối việc quy định TNHS của pháp nhân; cũng như khác nhau về việc xác định các cơ sở, nội dung của việc quy định TNHS của pháp nhân. Có thể viện dẫn một số công trình điển hình sau đây: - M.C Von Savigny (1841), Traité de droit romain, trad. ruenoux, Paris, librairie firmin didot (tạm dịch là: Chuyên luận về Luật La Mã).
Trong công trình này tác giả có quan niệm tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu thuộc hành vi khách quan (actus reus - Lat) và dấu hiệu lỗi chủ quan (mens rea - Lat). Trong đó lý giải hành vi khách quan của tội phạm phải do chính người phạm tội trực tiếp thực hiện. Pháp nhân là một thực thể pháp lý trừu tượng. Pháp nhân là một người vô hình, do các thành viên hợp lại và đại diện cho tất cả các thành viên.
Tác giả nhấn mạnh: “Pháp nhân. chỉ là một thực thể trừu tượng… sự tồn tại thực tế của nó dựa trên các quyết định của một hoặc một số những người đại diện mà chiếu theo sự trừu tượng được xem như là các quyết định của chính bản thân pháp nhân, một sự đại diện như thế. loại trừ ý chí theo đúng nghĩa” [115, tr. 8 - Donnedieu De Vabres (1947), Traite de droit criminel et de législation pénale compare, Paris, Librairie du Recueil Sirey (tạm dịch là: Chuyên luận về Luật hình sự và Luật hình sự so sánh).
Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định “nằm trong sự tất yếu của sự việc là bắt một pháp nhân phải chịu một hình phạt có những hậu quả bất lợi đối với những người thứ ba vô tội” [94, tr. Donnedieu nêu ra bất cập về mặt thực tế khi áp dụng chế tài hình sự cho pháp nhân. Các hình phạt được coi là đặc trưng, truyền thống và có hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù… không thể áp dụng được đối với pháp nhân. Theo tác giả “Người ta có thể phạt tù, bắt giam như thế nào đối với một thực thể mà bản chất của nó là vô hình? làm thế nào có thể tước mạng sống của một chủ thể giả tưởng mà bản chất của nó là thiếu sự tồn tại của thực thể hữu hình” [102, tr.
Hai công trình nghiên cứu nêu trên là hai trong số các công trình nghiên cứu thể hiện quan điểm không ủng hộ việc quy định TNHS của pháp nhân. Theo các tác giả thì pháp nhân không có khả năng thực hiện hành vi phạm tội, không thể có lỗi; mặt khác các chế tài hình sự không thể áp dụng được cho pháp nhân. Mặc dù là các công trình không ủng hộ việc quy định TNHS của pháp nhân nhưng việc tiếp cận, nghiên cứu các công trình này giúp cho NCS có cái nhìn đa chiều đối với TNHS của pháp nhân; giúp cho việc hình thành tư duy, luận điểm, lý lẽ để phản biện các quan điểm không ủng hộ và bổ sung, xây dựng, hoàn thiện lý luận về TNHS của pháp nhân. Từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, ngày càng có nhiều nhà hình sự học ủng hộ TNHS của pháp nhân.
Những người theo quan điểm này không chỉ bác bỏ các lập luận của những người không ủng hộ TNHS của pháp, mà còn nhìn nhận vấn đề từ góc độ nhận thức hiện đại, từ thực tiễn và nhu cầu phát triển xã hội hiện đại. Có thể viện dẫn một số công trình điển hình sau đây: - M. Đây là một công trình nghiên cứu tập hợp nhiều bài viết khác nhau. Trong công trình này có bài viết “La volonté à la lumière du nouveau code pénal” (tạm dịch là: Ý chí dưới ánh sáng của luật hình sự mới) của tác giả Y.
9 Mayaud đã đưa ra nhận định pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần tuý, nó với những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, có sự tồn tại thực tế của nó trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân. Về thực tế, “pháp luật đã ghi nhận và tổ chức nó trên phương diện pháp lý. Pháp nhân có ý chí độc lập chứ không đơn thuần chỉ là con số cộng ý chí của các cá nhân thành viên pháp nhân, tập đoàn được pháp nhân hoá; pháp nhân có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó” [117, tr. Nói cách khác, các tổ chức mặc dù bao gồm các cá nhân nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua các cấu trúc pháp lý xác định.
Trong các tổ chức, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình. Trong công trình này tác giả đã lý luận và khẳng định pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần tuý, nó có ý chí của riêng mình. Đây là vấn đề mà NCS có thể tham khảo để lý giải cho việc có thể xác định được lỗi của pháp nhân khi xây dựng lý luận về TNHS của pháp nhân.
Bolton (eningeering) Company ltd. Graham &son ltd (1957) i. Trong tác phẩm này, các tác giả trình bày quan điểm pháp nhân không phải là một chủ thể trừu tượng mà là một chủ thể độc lập, có ý chí. Pháp nhân có thể, với nhiều danh nghĩa, được so sánh với con người.
“Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm. Nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo các mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương” [111, tr. Ông ủng hộ quan điểm pháp nhân rõ ràng là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về hình sự. Trong công trình nghiên cứu trên, các tác giả không chỉ khẳng định pháp 10 nhân không phải là một chủ thể trừu tượng, mà còn khẳng định pháp nhân có năng lực thực hiện được tội phạm một cách có lỗi, tức là pháp nhân thực hiện được hành vi mà pháp luật hình sự coi là tội phạm và hoàn toàn có thể xác định được lỗi của pháp nhân khi thực hiện hành vi.
Đây là vấn đề mà NCS có thể tham khảo để xây dựng lý luận về về hành vi, về lỗi của pháp nhân khi thực hiện tội phạm. - Pharmaceutical Society v London and Provincial Supply Association (1880), limited respondents, LonDon (tạm dịch là: Các kháng cáo lại Hội Dược phẩm và Công ty Cung ứng Luân Đôn và địa phương). Trong bản kháng cáo này thể hiện ý kiến phản bác quan điểm cho rằng các pháp nhân về bản chất là những thực thể vô hình nên không thể áp dụng hình phạt đối với nó. Theo đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học về hình phạt, quan điểm không thể áp dụng hình phạt với pháp nhân đã không còn có sức thuyết phục.
Mặc dù tử hình hoặc các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với pháp nhân phạm tội nhưng những loại hình phạt khác dần dần được phát triển tương hợp hoàn toàn với bản chất pháp nhân phạm tội với mục đích làm cho nó phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi phạm tội mà nó đã gây ra cho xã hội. Cũng chính từ những quan điểm này và sau đó được rộng rãi các quốc gia ủng hộ, áp dụng đã cho thấy luật hình sự có xu hướng giảm hoặc thay thế các hình phạt được cho là truyền thống quá nghiêm khắc như tử hình, tước tự do bằng các hình phạt nhân đạo hơn không tước tự do nhưng có giá trị phòng ngừa cao hơn, đặc biệt là các hình phạt liên quan đến tài sản hoặc hoạt động của tổ chức [110]. Tác giả cho rằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội đã thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật hình sự được củng cố. Từ nhận thức nguyên tắc cá thể hoá hình phạt không thể tách rời khỏi nhận thức về chế tài áp dụng đối với pháp nhân.
Nếu pháp nhân là những thực thể có khả năng phạm tội thì có lý nào các pháp nhân lại không bị chịu sự trách cứ về hình sự của nhà nước khi nó phạm tội. Vì vậy, theo tác giả thì chế tài hình sự 11 buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những pháp nhân, khi các thực thể này phạm tội [124]. Những vấn đề được nêu ra trong “The pharmaceutical society. The London and provincial supply association ltd” (1880) và V.
Simonart (1995), la personalité morale en droit compare có giá trị tham khảo đối với NCS trong quá trình thực hiện luận án liên quan tới việc xác định, đánh giá về nội dung chế tài áp dụng đối với pháp nhân. Bởi theo các tác giả thì hoàn toàn có thể áp dụng hình phạt đối với pháp nhân.