CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. KHÁI NIỆM PHÁP NHÂN 1. Lịch sử hình thành pháp nhân Pháp nhân là một khái niệm được hình thành và hoàn thiện gắn với sự phát trién nền kinh tế. mà đặc biệt là nền kinh tế thi trương.
Khái niệm pháp nhân không phai là khái niệm luôn tồn tại trong lịch sử. cũng như khái niệm công dân. trong pháp luật chưa hề có khái niệm pháp nhân. “Khai niệm pháp nhân thâm cht còn được hình thành sau khai niệm ca nhân (vao khoang nam 1800) trong hệ thong pháp ludt tư voi mục đích thừa nhận mot loại chu thê phap luật mới khong phai là con người, có tinh trạng tai san tách bạch va độc lập voi các chu thê phúp luật khac va đặc biệt la voi những "người" đã sinh ra no va cuối cùng la dé những phap nhân đó hưởng quv chế trách nhiệm hữu han vé mặt tài san” (31).
Pháp nhân được coi eó mam mong hình thành va phát trién từ thời kỳ sơ khai là các phường, hội ở thời cô đại và đến thời phong kiến. Đó là những tổ chức được hình thành trên co sở hợp tac. Khi tham gia các quan hệ pháp luật (mà ngày navy ta gọi là quan hệ dân sự), các tô chức nav không nhân danh chính minh ma nhân danh các thành viên. nhan danh các chủ sở hữu của tài san được đưa vào sử dụng.
các tô chức này không co tư cách pháp nhãn độc lập trong việc su dụng và định đoạt những tài san khi nó buộc phải thành phương tiện để thực hiện các quan hệ dân sự. thương mại. Điều đó có nghĩa rang, về mặt pháp lý. Khai niêm pháp nhân 11 có sự phân biệt và tách bạch giữa tài sản được đưa vào tổ chức và phản tài sản còn lại mà ca hai đều thuộc sở hữu của cùng một chủ.
Vì hoạt động nhân danh chu sơ hữu nên khi tô chức navy vỡ nợ. các chủ nợ van có quvền đòi các chu so hữu phải chịu trách nhiệm. Qua trình hình thành pháp nhân được coi là có bước đột phá o thoi kì phát triển nền kinh tế hàng hóa. kinh tế thị trường và sự phát triển cua phương thức san xuất tư ban chu nghĩa.
với sự hình thành của công tv (đối vốn) — một loại hình tiêu biểu của pháp nhân. Khi nền san xuất hàng hoa phát triển. văn dé củng cổ địa vi của các tô chức kinh tế bang phương tiện pháp lý để các tổ chức này tham gia độc lập vào các quan hệ dân sự - thương mại là nhu cầu cắp thiết đối với các loại hình tô chức khác nhau và cũng là phương tiên. điều kiện đê cac nhà tư ban cạnh tranh với nhau trong co chế thị trương.
Dé xác định tư cach pháp lý độc lap cho các tô chức này, và hạn chê rui ro trong kinh doanh cũng như giới hạn những hậu qua khủng khiếp cua sự đô vỡ trong các tô chức. thực tiễn của hoạt động dân su - thương mại đòi hoi phai tao ra mot kha nang vé sự tach bạch vẻ tai san giữa phan đưa vào lưu thông và phan còn lại mà chu sơ hữu co nhu cau su dụng vào những mục đích khác. trước vêu cảu cua công việc kinh doanh. khi mà sự cạnh tranh ngày càng gav gat.
rủi ro kinh doanh ngày càng cao. số vốn can dua vào kinh doanh ngày càng nhiều mà một cá thê đơn lẻ khó mà đảm trach nổi thì phat sinh vêu cau khách quan của những ca thê kinh doanh. cua các thành viên trong các tô chức kinh doanh là: cùng góp vốn. cùng kinh doanh.
cùng chịu lỗ. Từ đó xuất hiện công ty và pháp luật thừa nhàn chu thê kinh doanh mới nay với việc trao cho nó tư cách mới với hai vếu tố quan trọng nhất đó là: rách bạch vẻ tài san; và được hưởng trách nhiệm hữu han trong cac quan hệ tài san (khi pha san). Khi thực hiện nguyên tae tách bạch về tài san cũng là khi 1. Khái niệm pháp nhân 19 xuất hiện một nhân cách pháp lý mới.
tách bạch với nhân cách pháp lý của chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu. Để đặt tên cho nhân cách pháp lý mới đó. khái niệm pháp nhân đã ra đời. Như vậy, với mục đích này.
khái niệm pháp nhân không liên quan đến vấn đề cá nhân hay tập thé: số ít hay số nhiều của những con người. Nói như vậy là vì đã có lúc khoa học pháp lý cua ta nhầm tưởng rằng "t6 chức" hay "tap thé" là dấu hiệu của pháp nhân cũng như cho rằng các đơn vị kinh tế quốc doanh dưới thời kế hoạch hóa cũng có tư cách pháp nhân. Đành rằng, pháp nhân không phải là người. song không phải mọi tô chức đều là pháp nhân.
như đã trình bày ở trên. mục đích của việc xác lập tư cách pháp nhân là việc tách biệt tài san. Như vậy chi có những tô chức thực hiện nguyên tắc tách bạch về mặt tài sản mới có được điều kiện quan trọng, là tiền để dé có thé trơ thành pháp nhân. Y tưởng về sự tach bạch tài san nhằm xác định tư cách độc lập về mat pháp lý cho một tô chức được gọi là pháp nhân còn dẫn đến một hậu qua pháp lý dân sự nữa là kháng định tính chất trách nhiệm hữu hạn của loại tô chức nav khi tham gia các quan hệ tài san.
bất kỳ o đâu (cá nhân hay tô chức) khi không thực hiện nguyên tac này đều hưởng quy chế trách nhiệm vô han trong các quan hệ tài sản. Ngoài loại hình pháp nhân kể trên (được gọi là pháp nhân dân su) còn một loại pháp nhân khác - pháp nhân công quyền. Nó được hình thành vào thời kỳ sôi động của tư tưởng về Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân (khoang giữa thé ky XIX). nơi mà quan hệ giữa công dân va Nhà nước.
các cơ quan nhà nước là các quan hệ pháp luật. cần thiết phải xác lập tư cách chu thể pháp luật cho các chủ thể của quyền lực công cộng thì lúc đó. người ta nói đến một loại pháp nhân mới - pháp nhân công quyền với tính chất và nội dung không hoàn toàn giống với pháp nhân dân sự. Khải niêm pháp nhân 13 Ở nước ta.
vào những buổi ban đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945). pháp luật đã sử dụng khái niệm pháp nhân với mục đích chỉ một loại chủ thể pháp luật được phân biệt với cá nhân. Sau nhiều năm bị quên lãng thì gần đây. khái niệm pháp nhân lại được sử dụng trở lại trong cặp phạm trù pháp nhân và cá nhân.
Tại Bộ luật dân sự (chương II) có su dụng khái niệm cá nhân trong su phân lập với pháp nhân. cách phân lập này cùng có nhiều ý kiến chưa thống nhất song nó cũng đã thể hiện một sự phát triển của dân luật ở nước ta. ` Theo truyền thống khoa học pháp lý dân sự nói riêng và khoa học pháp lý nói chung. người ta chia các chủ thê của luật dân sự thành hai loại: phap nhân va thé nhân.
Mặc dù pháp nhân là một loại chủ thể không phải là con người. một loại chủ thể trừu tượng, không có hình hài. song điều đó không có nghĩa là con người đồng nghĩa với "ca nhân" [31]. Bộ luật dân sự phân biệt các loại chủ thể theo dấu hiệu pháp nhân và cá nhân nên đương nhiên phai đi tìm thêm những chu thê pháp luật khác đê liệt kê trong Bộ luật mà điển hình là hộ gia đình và tô hợp tác - những chu thê pháp lý không phải là cá nhân mà cũng không hưởng quv chế của một pháp nhân.
Nếu cứ theo cách như vậy thì chưa cần phải dự tính đến sự phát triển của kinh tế - xã hội thì ngay hiện nay Hỗ luật đã không thể liệt kê hết. Đó là những cộng đồng người phải sinh ra một chủ thể pháp luật mới nhưng không có tu cách pháp nhân thông qua sự liên kết trên co so cua những sự kiện pháp lý. Nếu pháp luật của chúng ta thừa nhận loại hình công ty đối nhân thi sé có hàng loạt các tổ chức ra đời nhưng không có tư cách pháp nhân. Mặt khác, hiện nay trong xã hội đã có không ít các tô chức được thành lập theo nguyên tac hiệp hội mà không đủ điều kiện tro thành pháp nhân.
"n"hững doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích có hưởng quy chế dav du 1. Khái niêm pháp nhân 14 cua một phap nhàn hay không? Vấn đề này van còn phải được giải quyêt cụ thê thong qua hoạt động hoan thiện phap luật uẻ doanh nghiệp nha nước” [31]. Một số học thuyết về pháp nhân trên thế giới Với pháp nhân dân sự. việc đưa ra một khái niệm về pháp nhân dường như không phải không có những quan điểm chưa thống nhất với nhau.
có những khía cạnh được nhấn mạnh khác nhau. theo "thuyêt hư cau" thì pháp nhân được xem là "ca nhân hư cau". Đó là những chu thé pháp luật trừu tượng mà không thê nhận biết được qua trực giác. pháp nhân chỉ có thê thê hiện hành vì cua mình qua co quan cua pháp nhân - đại diện pháp nhãn.
theo "thuyết vé hiện thực xã hội" thì pháp nhân được coi la một hiệp hội. một hình thức tô chức pháp ly mà chúng ta hav gọi là tô chức: Thu ba. theo "thuyết ve tài san" thi coi pháp nhân như là một thực thê đại diện của một khối tài san được xác định và tách bạch. ton tại và vận động có mục dich theo ý chi của chủ sở hữu pháp nhân.
Phap nhân là chu thê quyên sở hữu uẻ tai san của pháp nhân. Pháp luật nước ta. trước khi Bộ luật dan sự ra đời. chưa phai là đã có một quy định mang tính thống nhất và thuyết phục khoa học về khái niệm pháp nhàn.
chúng ta ít dé cập khái niệm pháp nhân trong quy định pháp luật. Trong thoi ky kinh tê bao cấp và kế hoạch cao độ trước đây. các “phap nhân" chi được coi như là "cấp quan lý" tài san cua Nhà nước trong các Xí nghiệp quốc doanh. Nông trương quôc doanh.
Hoac chúng ta quan niệm phap nhân là tô chức có con dấu riêng. có tài khoan mở tại ngân hang. Đây chỉ là quan niệm mang nhiều tính hành chính chứ chưa nhìn nhận dưới góc độ kinh tê. pháp luật kinh tẻ.
Khải niệm pháp nhân 15 1. Khái niệm pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam Trước khi có Bộ luật dân sự.