CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC ĐỒNG THỜI LÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SAU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Khái quát chung về người đại diện phần vốn nhà nước đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.1 Những khái niệm liên quan Khi nói về “Người” có lẽ đó là một khái niệm mà từ thời xưa đến ngày nay, dù đã qua nhiều giai đoạn nhưng vẫn không thể diễn tả hết, nhất là trong giai đoạn phát triển, để đáp ứng với nhu cầu hội nhập của quốc tế thì cần phải có những con người thật và việc thật để giải quyết những vấn đề của thời đại, vậy “Con người” là khái niệm không phải là một cá nhân, chính vì lẽ đó cái hay của phương Tây là thường dung hòa được giá trị cá thể và và giá trị cộng đồng. Trong doanh nghiệp nhất là CTCP thì người ấy sẽ giữ vai trò và tầm quan trọng như thế nào trong quyết định và định hướng phát triển của doanh nghiệp, hay những khái niệm về công ty cổ phần, cổ phần hóa DNNN để hiểu rõ thêm vấn đề này sẽ đi tìm hiểu những khái niệm có liên quan sau: Khái niệm về Công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành cổ phần và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trên số vốn góp vào doanh nghiệp4. Về mặt lịch sử thì CTCP ra đời sau công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn5. Luật doanh nghiệp 2014 hiện hành tại Việt Nam không có khái niệm cụ thể về công ty cổ phần, nhưng nhà làm luật đã nêu ra một số đặc trưng để phân biệt với những loại hình công ty khác, công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: 4 Nguyễn Thị Dung (chủ biên, 2017) “Luật kinh tế”, Nxb lao động, tr.76 5 Trần Huỳnh Thanh Nghị (chủ biên, 2018) “Giáo trình Luật Doanh nghiệp”, Nxb Lao động, tr.101 9 Vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; trừ một số trường hợp pháp luật quy định hạn chế chuyển nhượng hoặc cấm chuyển nhượng; CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn6.
Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Theo nhà kinh tế học người Mỹ Paul Samuelson, người đạt giải Nobel về kinh tế, ông cho rằng: “Nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cơ chế thị trường và phải có sự can thiệp của Nhà nước”7. Ở Việt Nam thì mô hình DNNN ra đời khá sớm và có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tồn tại và phát triển suốt một thời gian khá dài, vì thế quan niệm về DNNN cũng có sự thay đổi nhất định để phù hợp với xu hướng hội nhập. Luật Doanh nghiệp 2014 quan niệm “DNNN là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”8, tuy nhiên khái niệm trên đã có thay đổi theo LDN 2020 ban hành có hiệu lực năm 2021 quy định:“ DNNN gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết”9. Quy định này có ý nghĩa bảo đảm vốn nhà nước nắm giữ phần vốn hay cổ phần chi phối, với mục đích kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả trong việc sử dụng vốn nhà nước tại các DNNN nhằm thể chế hóa chủ trương về tỷ lệ cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 12 (khóa XII) về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN.
Với mục tiêu là nhằm nâng cao hiệu lực quản trị và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có sở hữu nhà nước, qua đó sẽ có cách thức và phương thức quản lý, giám sát phù hợp, bổ sung quy định kiểm soát tập quyền, 6 Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014. 7 Nguyễn Thị Dung (chủ biên,2017) “Luật kinh tế”, Nxb Lao động, tr.145 8 Khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014. 9 Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020. 10 chống xung đột lợi ích và bảo đảm tính minh bạch hóa, công khai thông tin của doanh nghiệp có sở hữu nhà nước.
Mặc dù khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo LDN 2020 đã có sự thay đổi so với khái niệm doanh nghiệp nhà nước tại LDN 2014. Tuy nhiên, LDN 2020 điều chỉnh những vấn đề : “Luật Doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty”10. Qua đó cho thấy LDN 2020 vẫn giữ nguyên phạm vi điều chỉnh giống LDN 2014. Ngoài ra, LDN 2020 quy định đối tượng áp dụng : “Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp”11.
Do đó, so với LDN 2014 thì LDN 2020 vẫn giữ nguyên đối tượng áp dụng. Theo đó, khái niệm doanh nghiệp nhà nước nêu trên đã có sự thay đổi so với khái niệm doanh nghiệp nhà nước tại LDN 2014, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng không thay đổi. Như vậy, việc thay đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước về cơ bản không tác động đến hệ thống pháp luật người đại diện vốn nhà nước đồng thời là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Do đó tác giả vẫn nghiên cứu những quy định pháp luật người đại diện phần vốn nhà nước theo quy định hiện hành.
Đảng và Nhà nước đã khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, ở đây chủ đạo không phải là độc quyền, mà chủ đạo được hiểu là dẫn dắt, điều tiết và tạo điều kiện giúp đỡ các thành phần kinh tế khác phát triển trong cơ cấu nhiều thành phần kinh tế. Trong khi đó kinh tế nhà nước bao gồm nhiều bộ phận như: hệ thống tài chính nhà nước, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật-xã hội, những tài sản của quốc 10 Điều 1 Luật Doanh nghiệp 2020 11 Điều 2 Luật Doanh nghiệp 2020 11 gia, và các DNNN, nhưng chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Như vậy, DNNN chỉ là một bộ phận của thành phần kinh tế nhà nước, không phải là toàn bộ thành phần kinh tế nhà nước.
Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa ở Việt Nam là việc chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, với mục tiêu chính của cổ phần hóa ở Việt Nam là: Một là, có thể huy động vốn của toàn xã hội bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước để đầu tư làm phát triển doanh nghiệp, đa dạng môi trường cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Hai là, có thể tạo điều kiện thuận lợi để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người cùng góp vốn được thực sự làm chủ; đổi mới phương thức quản lý nhằm tăng cường hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng nguồn vốn nhà nước và ổn định thu nhập cho người lao động.12 Ở Việt Nam cổ phần hóa thường được tiến hành theo các hình thức sau: (i) Giữ nguyên giá trị vốn nhà nước thực hiện tại các công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triện doanh nghiệp;(ii) Bán một phần giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp ; (iii)Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa; (iv) Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần.13 Từ khi triển khai mô hình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần, bắt đầu hình thành và xuất hiện thêm các chủ thể như : Cơ quan đại diện chủ sở hữu và người đại diện phần vốn nhà nước để phù hợp với mô hình quản lý mới tại CTCP sau cổ phần hóa. 12 Nguyễn Quang Thuấn (2017), “Cải cách DNNN ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới: thực trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc Gia Sự Thật- Hà Nội, tr. 13 Điều 5 Nghị định 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 12 Cơ quan đại diện chủ sở hữu Theo quy định tại khoản 01 Điều 03 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 và sửa đổi năm 2018 quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu là: “Cơ quan, tổ chức được chính phủ giao thưc hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”.
Người đại diện phần vốn nhà nước Theo khoản 06 Điều 03 Luật Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, sửa đổi năm 2018 quy định: “Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (sau đây gọi là người đại diện phần vốn nhà nước) là cá nhân được cơ quan đại diện chủ sở hữu ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”. Luật Doanh nghiệp năm 2014 ban hành đã tạo thêm hành lang pháp lý, áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. LDN 2014 đã đưa ra khái niệm cụ thể hơn về NĐD theo ủy quyền và thay thế cho thuật ngữ trước đây là người trực tiếp quản lý.