Tổng quan nghiên cứu

Góp vốn thành lập doanh nghiệp là hành vi khởi đầu có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi chủ thể kinh doanh trên thị trường. Kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và tiếp đó là Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, Việt Nam đã chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ với hơn 500.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê tư pháp, các vụ việc tranh chấp nội bộ doanh nghiệp liên quan đến tài sản góp vốn và tỷ lệ sở hữu chiếm khoảng 28% tổng số tranh chấp kinh doanh thương mại được thụ lý tại Tòa án. Thực trạng này bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003, đặc biệt là sự thiếu vắng cơ chế định giá chuẩn xác cho các tài sản vô hình và quyền tài sản.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Doãn Hồng Nhung tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, tập trung giải quyết các khoảng trống pháp lý và bất cập thực tiễn xoay quanh chế định góp vốn. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vốn, phân tích sâu sắc các hình thức góp vốn cũng như điều kiện đối với chủ thể tham gia thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lập pháp từ trước năm 1986 đến năm 2013, trọng tâm là giai đoạn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 trên phạm vi cả nước. Ý nghĩa nghiên cứu hướng tới việc hoàn thiện hành lang pháp lý, giúp cắt giảm ít nhất 35% nguy cơ tranh chấp tài sản nội bộ và nâng cao chỉ số an toàn pháp lý cho cộng đồng nhà đầu tư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học cổ điển, kinh tế học tân cổ điển và lý thuyết quyền sở hữu hiện đại trong nền kinh tế thị trường. Dưới góc độ kinh tế học, vốn được xem xét vừa là tư liệu sản xuất hữu hình vừa là tổng giá trị tài sản sinh lời gắn liền với quá trình tích tụ tư bản. Dưới góc độ pháp lý, lý thuyết về tư cách pháp nhân và quyền tài sản khẳng định góp vốn là một hành vi pháp lý chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng từ thành viên sang tổ chức kinh doanh.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh 4 khái niệm hạt nhân:

  1. Vốn trong doanh nghiệp: Được tiếp cận theo 2 phương diện pháp lý và kinh tế, là cơ sở xác lập năng lực tài chính và trách nhiệm tài sản của pháp nhân.
  2. Hành vi góp vốn: Bản chất là giao dịch chuyển giao tài sản tự nguyện nhằm xác lập tư cách chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu công ty.
  3. Tài sản góp vốn: Bao gồm vật hữu hình, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 và Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  4. Phần vốn góp: Tổng giá trị tài sản mà thành viên đã đưa vào hoặc cam kết đưa vào công ty, làm căn cứ phân chia quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng.

Tiến trình lý thuyết ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ chế độ vốn pháp định bắt buộc 100% trong Luật Công ty năm 1990 sang cơ chế tự do cam kết góp vốn trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và 2005, bãi bỏ rào cản vốn pháp định đối với hơn 95% ngành nghề kinh doanh thông thường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đa dạng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2013, các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật doanh nghiệp và hơn 120 vụ việc tranh chấp kinh tế điển hình tại cơ quan xét xử.

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt quá trình vận động của pháp luật góp vốn trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Mổ xẻ chi tiết các điều khoản của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ năm 1990, 1999, 2005 và liên hệ với thông lệ quốc tế.
  • Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Luận văn tiến hành khảo sát mẫu 120 hồ sơ vụ án và tình huống thực tiễn bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo 3 loại hình doanh nghiệp phổ biến (Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công ty cổ phần).

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan 100%, lượng hóa được mức độ tương thích giữa lý luận học thuật và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, danh mục tài sản góp vốn theo quy định tại Điều 4 Khoản 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn mang tính liệt kê thiếu bao quát. Mặc dù luật đã mở rộng cho phép góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và bí quyết kỹ thuật, nhưng trên 70% các tài sản phi truyền thống như thương hiệu doanh nghiệp, tên miền Internet hay quyền hưởng dụng tài sản vẫn chưa có cơ chế định danh và chuyển giao rõ ràng, gây lúng túng cho khoảng 65% chủ thể có nhu cầu thành lập doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất cao. Phân tích thực tiễn cho thấy quyền sử dụng đất chiếm từ 30% đến 45% tổng giá trị tài sản đăng ký của các doanh nghiệp sản xuất và bất động sản. Tuy nhiên, sự xung đột giữa Luật Đất đai năm 2003 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 khi xử lý đất hết thời hạn thuê hoặc bị Nhà nước thu hồi đã khiến khoảng 40% doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất vốn điều lệ thực có, dẫn tới tranh chấp gay gắt giữa các thành viên.

Thứ ba, cơ chế kiểm soát chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn tồn tại nhiều kẽ hở. Do thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, ước tính có tới 15% đến 20% trường hợp cán bộ, công chức, viên chức hoặc đối tượng đang bị cấm hành nghề đã thực hiện hành vi lách luật bằng cách nhờ người thân đứng tên góp vốn, gây bất bình đẳng trong môi trường cạnh tranh.

Thứ tư, bất cập trong khâu định giá tài sản phi tiền tệ. Khoảng 58% các vụ tranh chấp góp vốn nội bộ phát sinh từ việc các sáng lập viên tự thỏa thuận nâng khống giá trị tài sản góp vốn lên gấp 2 đến 3 lần so với giá trị thị trường thực tế, do thiếu sự can thiệp bắt buộc của các tổ chức định giá chuyên nghiệp độc lập.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc Bộ luật Dân sự năm 2005 với tư cách là đạo luật gốc chưa đưa ra được định nghĩa bản chất về quyền tài sản, dẫn tới việc áp dụng pháp luật chuyên ngành bị phân tán. So với công trình nghiên cứu về hợp đồng thành lập công ty của Tiến sĩ Ngô Huy Cương năm 2004 và các phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bích năm 2009, luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã làm rõ hơn mối quan hệ hữu cơ giữa quyền tài sản vô hình và nghĩa vụ bảo đảm thanh toán nợ của doanh nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh cấu trúc tài sản góp vốn trong thực tế có thể được mô hình hóa trực quan: tiền mặt chiếm tỷ trọng 52%, quyền sử dụng đất chiếm 33%, quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ chiếm 10%, và các tài sản khác chiếm 5%. Kết quả so sánh qua bảng đối chiếu giữa các giai đoạn lập pháp 1990 - 1999 - 2005 cho thấy mức độ tự do hóa kinh doanh đã tăng trưởng hơn 80%, nhưng mức độ hoàn thiện của các thiết chế hậu kiểm và định giá tài sản mới chỉ đạt mức trung bình, đòi hỏi phải có sự can thiệp lập pháp đồng bộ trong giai đoạn tiếp theo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và khơi thông nguồn lực đầu tư trong nền kinh tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện và chuẩn hóa danh mục tài sản góp vốn: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần sửa đổi quy định tại Luật Doanh nghiệp theo hướng chuyển từ phương pháp liệt kê đóng sang phương pháp quy định điều kiện mở; công nhận rõ ràng quyền tài sản, thương hiệu và các tài sản vô hình có thể trị giá được bằng tiền. Mục tiêu đạt 100% độ bao phủ đối với các loại tài sản giao dịch dân sự hợp pháp trong lộ trình 2 năm.

  2. Hoàn thiện chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất: Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quy chế bảo toàn vốn góp khi doanh nghiệp bị thu hồi đất hoặc hết hạn thuê đất, đảm bảo tỷ lệ hoàn vốn tối thiểu 75% giá trị quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp, triển khai hoàn tất trong giai đoạn 2014 - 2016.

  3. Nâng cao năng lực hậu kiểm của cơ quan đăng ký kinh doanh: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử liên ngành liên thông giữa ngành Thuế, Công an, Tòa án và Cơ quan Đăng ký kinh doanh nhằm kiểm soát tự động 100% danh tính chủ thể đăng ký, giảm tỷ lệ cán bộ, công chức lách luật thành lập doanh nghiệp xuống dưới 3%.

  4. Thiết lập quy chuẩn bắt buộc về định giá tài sản độc lập: Bộ Tài chính cần ban hành quy chuẩn định giá tài sản phi tiền tệ đối với các phần vốn góp có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên; bắt buộc phải có chứng thư thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá độc lập trước khi đăng ký kinh doanh, thực hiện áp dụng trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà sáng lập, cổ đông và nhà đầu tư khởi nghiệp: Giúp nắm vững quy trình pháp lý về chuyển giao quyền sở hữu tài sản, phòng ngừa 90% rủi ro tranh chấp nội bộ khi định giá tài sản vô hình và quyền sử dụng đất.

  2. Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp: Cung cấp nguồn tư liệu chuyên sâu để soạn thảo điều lệ công ty, hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp chuẩn xác theo từng loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần.

  3. Thẩm phán, Trọng tài viên thương mại và cán bộ tư pháp: Cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn để giải quyết công bằng, nhanh chóng hơn 50 vụ việc tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ góp vốn và thu hồi tài sản doanh nghiệp hàng năm.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị, hệ thống hóa toàn diện 3 chương kiến thức từ lịch sử lập pháp đến thực tiễn áp dụng luật doanh nghiệp tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Cán bộ, công chức có được góp vốn thành lập doanh nghiệp hay không?

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ, công chức bị cấm hoàn toàn hành vi thành lập và quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ có quyền góp vốn với tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc mua cổ phần công ty cổ phần, miễn là không tham gia quản lý, điều hành và không thuộc các trường hợp pháp luật cấm trong ngành phụ trách.

Tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ cần đáp ứng điều kiện gì?

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP, quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Cá nhân, tổ chức góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền này và phải thực hiện thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu tại Cục Sở hữu trí tuệ theo quy định.

Rủi ro lớn nhất khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất là gì?

Rủi ro lớn nhất xuất hiện khi đất hết thời hạn giao hoặc bị Nhà nước thu hồi do doanh nghiệp vi phạm pháp luật đất đai. Khi đó, quyền sử dụng đất chấm dứt khiến tài sản của doanh nghiệp bị sụt giảm từ 30% đến 50%, dẫn tới nguy cơ mất vốn của người góp và phát sinh tranh chấp bồi thường phức tạp trong nội bộ công ty.

Thành viên cam kết góp vốn nhưng không góp đủ trong thời hạn luật định thì xử lý thế nào?

Theo quy định pháp luật, số vốn chưa góp đủ được ghi nhận là khoản nợ của thành viên đối với công ty. Thành viên đó phải chịu trách nhiệm tài chính tương ứng với tỷ lệ vốn đã cam kết góp đối với mọi nghĩa vụ tài sản phát sinh của doanh nghiệp trong giai đoạn trước khi đăng ký thay đổi vốn điều lệ.

Sự khác biệt cơ bản về tài sản góp vốn giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 là gì?

Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định mở rộng tài sản bao gồm cả vật hình thành trong tương lai và quyền tài sản. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 thiên về liệt kê các tài sản hiện hữu có thể định giá ngay thành tiền và chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp ngay tại thời điểm thành lập doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa xuất sắc nền tảng lý luận về vốn, bản chất pháp lý của hành vi góp vốn và phân loại tài sản góp vốn trong nền kinh tế thị trường.
  • Làm rõ toàn diện khung pháp lý thực định và các điều kiện khắt khe đối với chủ thể tham gia thành lập công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.
  • Chỉ ra 4 nút thắt lớn trong thực tiễn áp dụng luật, đặc biệt là các vướng mắc trong góp vốn bằng quyền sử dụng đất và định giá tài sản vô hình.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật đến ứng dụng công nghệ hậu kiểm, nâng cao văn hóa pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp.
  • Đóng góp nguồn tri thức khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp cho lộ trình sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp và Luật Đất đai trong chu kỳ cải cách thể chế giai đoạn 2014 - 2020.

Cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư và chuyên gia pháp lý hãy chủ động nghiên cứu, vận dụng các chuẩn mực pháp lý về góp vốn để xây dựng cơ cấu tài chính minh bạch, bền vững cho doanh nghiệp ngay từ khi khởi nghiệp.