CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE DIA VỊ PHÁP LY CUA NHÀ ĐẦU TU TREN THỊ TRUONG CHUNG KHOAN 1. Những van dé lý luận về nha đầu tư trên thị trường chứng khoán 1. Khái niệm về nhà đầu tw chứng khoán Đề hiểu được khái niệm “nhà đầu tư” trước hết phải hiểu khái niệm “đầu tư”- một hoạt động quan trọng của các chủ thể trong nền kinh tế. Theo từ điển Tiếng Việt, “đầu tư” được hiểu là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [15, tr.
Đề định nghĩa rõ hơn về nhà đầu tư, có thé tham khảo thêm định nghĩa của Benjamin graham về “đầu tư” là "hoạt động đầu tư là một quá trình, thông qua phân tích kỹ lưỡng và cân trọng, có thé đảm bao an toàn vốn và thu lời thỏa đáng. Tất cả những hoạt động không đáp ứng được những yêu cầu trên là đầu cơ" [30]. Như vậy có thể hiểu “đầu tư” là hoạt động bỏ ra những nguồn lực ở hiện tại nhằm đạt được kết quả có lợi hơn cho chủ thể trong tương lai. Trong đó “đầu tư chứng khoán” được hiểu là việc NĐT bỏ tiền ra mua các chứng khoán (bao gồm cô phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ hay chứng khoán phải sinh.) trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích bảo toàn vốn và thu lợi nhuận.
Dựa trên góc độ kinh tế, đầu tư là việc mua bán chứng khoán theo phương thức giao dịch do pháp luật quy định. NĐT mua các loại chứng khoán không nhằm mục đích tiêu thụ hoặc sử dụng các loại chứng khoán mà họ mua về ma NDT thực hiện việc mua đi, bán lại các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời từ việc mua bán của mình. Nhìn chung, có thé hiểu nhà dau tư chứng khoán là tổ chức hay cá nhân đáp ứng điều kiện theo quy định tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK nhằm mục đích thu được những quyên lợi nhất định. Dựa trên góc độ pháp luật, khái niệm “Nhà đầu tư” được Luật Chứng khoán (LCK) các quốc gia dé cập và làm rõ, tuy nhiên LCK của các chỉ quan tâm điều chỉnh khái niệm “Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp” hay “Nhà đầu tư chứng khoán được công nhận” — những chủ thể có tầm ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường mà không đưa ra khái niệm “Nhà đầu tư chứng khoán” nói chung.
Ở Việt Nam, bên cạnh việc đưa ra định nghĩa nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp như thông lệ của thế giới, LCK còn quan tâm đưa ra khái niệm về “Nhà đầu tư chứng khoán” thông thường. Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006, sửa đôi bổ sung 2010: “Nhà dau tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia dau tư trên thị trường chứng khoán ”. Khái niệm này được khái quát tại Luật Chứng khoán 2019: “Nha dau tư là tổ chức, cá nhân tham gia dau tư trên TTCK”. Trong đó, “đầu tư chứng khoán” được hiểu “là việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán” (Khoản 15, Điều 4, LCK 2019).
Đầu tư là việc mua bán chứng khoán theo phương thức giao dịch do pháp luật quy định. Trên TTCK, nhà đầu tư mua các loại chứng khoán không nhằm mục đích tiêu thụ hoặc sử dụng các loại chứng khoán mà họ mua về mà NĐT thực hiện việc mua di, bán lại các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời từ việc mua bán của mình. Phạm vi thị trường chứng khoán ở đây bao gồm cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, thị trường tập trung và thị trường phi tập trung. Nhìn chung, có thé hiểu nhà đầu tư chứng khoán là tô chức hay cá nhân đáp ứng điều kiện theo quy định tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK nhăm mục đích thu được những quyền lợi nhất định.
Phần lớn các nhà đầu tư khi bỏ tiền ra đầu tư đều nhằm thu về lợi ích kinh tế, đó là hoạt động đầu tư kinh doanh, sản xuất. Một số ít hơn, thường là đơn vị thuộc nhà nước, đầu tư công cộng nhằm mang lại lợi ích cho xã hội, như việc xây dựng các công trình dân sinh, phúc lợi. Như vậy, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm nhà đầu tư chứng khoán như sau: “Nhà dau tr trên thị trường chứng khoán là những tổ chức, cá nhân tiến hành việc mua và ban chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích sinh lời ”. Như vậy, nhà đầu tư là những người cung cấp vốn cho thị trường chứng khoán để tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán, chứng chỉ đầu tư của các công ty đại chúng, các quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán tham gia thị trường.
Do vậy, nhà đầu tư giữ vai trò quyết định đối với sự sôi động và phát triển của thị trường chứng khoán. Pháp luật không dé ra những điều kiện cụ thé nào đối với nhà đầu tư. Tuy nhiên, theo bản chất quan hệ dân sự trong hoạt động đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư phải có những điều kiện sau đây: + Co đủ năng lực hành vi dân sự; + Có điều kiện về tài chính dé tham gia đầu tư (nha đầu tư chứng khoán thì không yêu cầu số tiền tối thiểu nhưng nếu thành lập công ty đầu tư chứng khoán thì vốn tối thiểu phải là 50 tỷ đồng); + Không bị pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền cấm tiến hành đầu tư chứng khoán; + Nếu hành nghề chứng khoán (môi giới chứng khoán, phân tích tài chính, quản lý quỹ) trong công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán thì bắt buộc có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Trường hợp chỉ mua bán chứng khoán thông thường thì không cần có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Căn cứ vào khoản 16 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 và khoản 18, 19, 20 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 đã có những khái niệm về nhà đầu tư chứng khoán va trong Luật Dau tư năm 2020 đã quy định chi tiết hơn "nhà đầu tư chứng khoán" không chỉ là nhà đầu tư Việt Nam mà còn có cả nhà đầu tư nước ngoài. Nhà dau tư chứng khoán chuyên nghiệp Nhà dau tư chứng khoán chuyên nghiệp là các chủ thé coi việc đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh thường xuyên của mình, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn và giá trị lớn trên TTCK. Cac NDT chứng khoán chuyên nghiệp thường có các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu TTCK đề đưa ra các quyết định đầu tư có độ an toàn và chính xác cao. NĐT chứng khoán chuyên nghiệp là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Căn cứ Điều 11 Luật chứng khoán 2019 quy định NDT chứng khoán chuyên nghiệp bao gồm: + Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức tài chính quốc tế, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, tổ chức tài chính nhà nước được mua chứng khoán theo quy định của pháp luật có liên quan; + Công ty có vốn điều lệ đã góp đạt trên 100 tỷ đồng hoặc tổ chức niêm yết, tô chức đăng ký giao dịch; + Người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán; + Cá nhân năm giữ danh mục chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch có giá trị tối thiêu là 02 tỷ đồng theo xác nhận của công ty chứng khoán tại thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; + Cá nhân có thu nhập chịu thuế năm gần nhất tối thiểu là 01 tỷ đồng tính đến thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là NDT chứng khoán chuyên nghiệp theo hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế hoặc chứng từ khâu trừ thuê của tô chức, cá nhân chi trả. Mối quan hệ của nhà đầu tư chứng khoán với các chủ thể trên thị trường bao gồm các chủ thé sau: - Công ty niêm yết: Nhà đầu tư chứng khoán mua và bán cổ phiếu của công ty niêm yết trên san giao dịch chứng khoán. Mối quan hệ nay tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận thị trường và tham gia vào hoạt động mua bán cô phiếu. - Các doanh nghiệp: Nhà đầu tư chứng khoán có thé là cô đông của các doanh nghiệp.
Trong vai trò này, nhà đầu tư có quyền tham gia vào việc ra quyết định và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Ngân hàng và tổ chức tài chính: Nhà dau tư chứng khoán có thé sử dụng dich vụ của ngân hang và tô chức tài chính để mở tài khoản giao dich, vay margin, hay thực hiện các giao dịch khác liên quan đến chứng khoán. Quan hệ này giúp nhà đầu tư tiếp cận các nguồn tài chính và dịch vụ hỗ trợ. - Cơ quan quản lý thị trường: Nhà đầu tư chứng khoán phải tuân thủ các quy định và quy tắc của cơ quan quản lý thị trường, như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay Sở Giao dịch Chứng khoán.
Mối quan hệ này đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động giao dịch chứng khoán. - Các nhà môi giới: Nhà đầu tư chứng khoán thường sử dụng dịch vụ của các nhà môi giới để tiếp cận và thực hiện giao dịch chứng khoán. Mối quan hệ này đòi hỏi sự tin tưởng và cung cấp thông tin chính xác từ phía nhà môi gIớI. Như vậy, mối quan hệ của nha đầu tư chứng khoán với các chủ thé trên thị trường là phức tạp và đa dạng.
Nó tạo ra một hệ sinh thái chứng khoán mà nhà dau tư cần hiểu và tương tác dé đạt được kết quả tốt trong hoạt động dau tư của mình. Đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoản Kinh nghiệm tai các quốc gia phát triển cho thấy NDT nói chung va NDT chuyên nghiệp nói riêng có thê năm vi thê đôi trọng đôi với các tô chức 10 tín dụng, bảo đảm sự cân đối, cạnh tranh và hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính. NDT chuyên nghiệp cũng là động lực thúc đây các ý tưởng va sản phẩm tài chính mới, thúc day quá trình hiện đại hóa khu vực tài chính, minh bạch hóa và hoàn thiện các chuẩn mực quản trỊ công ty, mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển của TTCK.