Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ước tính cần hàng triệu tỷ đồng nhằm đổi mới trang thiết bị công nghệ. Hoạt động cho thuê tài chính chính thức xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1995 với sự ra đời của Quyết định số 149/QĐ-NH5 và Nghị định số 64/CP, mở ra kênh dẫn vốn trung - dài hạn thiết yếu bên cạnh tín dụng ngân hàng truyền thống. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm phát triển tính đến năm 2011, thị trường cho thuê tài chính vẫn phát triển khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 1,5% đến 2,0% tổng dư nợ của toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết những bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quá trình gia nhập thị trường, quy trình vận hành nghiệp vụ, huy động vốn và xử lý tranh chấp của loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng này.
Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng pháp lý về điều kiện cấp phép, cơ cấu tổ chức và hoạt động thực tiễn của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam trong khung thời gian từ năm 1995 đến năm 2010. Trên cơ sở đó, luận văn so sánh với chuẩn mực quốc tế tại Hoa Kỳ, Nhật Bản và Thụy Điển để đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc đưa ra luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ sửa đổi Nghị định số 16/2001/NĐ-CP, Nghị định số 65/2005/NĐ-CP, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng tài trợ vốn máy móc thiết bị lên trên 5% tổng dư nợ và chuẩn hóa điều kiện vốn pháp định từ 100 tỷ đồng lên 150 tỷ đồng theo lộ trình quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết trung gian tài chính và học thuyết về quyền sở hữu tài sản để phân tích bản chất của công ty cho thuê tài chính với tư cách là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Trong mô hình cấu trúc vốn doanh nghiệp, nghiệp vụ cho thuê tài chính là công cụ tài trợ không dựa trên tài sản thế chấp truyền thống mà dựa trực tiếp vào quyền sở hữu pháp lý đối với chính tài sản cho thuê và dòng tiền tạo ra từ việc khai thác thiết bị. Ba khái niệm nền tảng được định hình xuyên suốt gồm: giao dịch cho thuê tài chính với tính chất không thể hủy ngang trong thời hạn thỏa thuận, công ty cho thuê tài chính là pháp nhân kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp có phạm vi hoạt động hẹp hơn ngân hàng thương mại, và hợp đồng cho thuê tài chính là hình thức hợp đồng song vụ có sự phân tách rõ rệt giữa quyền sở hữu pháp lý của bên cho thuê và quyền sử dụng kinh tế của bên thuê.
Cơ sở pháp lý nền tảng được luận văn khảo sát gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005, Nghị định số 95/2008/NĐ-CP ngày 25/8/2008 cùng các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước như Thông tư số 06/2005/TT-NHNN và Quyết định số 40/2007/QĐ-NHNN.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 45 văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo giám sát tài chính định kỳ giai đoạn 2007 đến tháng 06/2010 của Ngân hàng Nhà nước và các hiệp hội chuyên ngành. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế bao gồm toàn bộ 12 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động tại Việt Nam tính đến năm 2010 (gồm 8 công ty trực thuộc các ngân hàng thương mại nhà nước, 3 công ty liên doanh và 1 công ty 100% vốn nước ngoài) cùng 30 hồ sơ tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính thụ lý tại Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 2005 - 2010. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ mọi loại hình doanh nghiệp, đảm bảo tính đại diện cao cho thị trường tài chính non trẻ.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp với thống kê mô tả và diễn giải quy nạp xuất phát từ nhu cầu đối chiếu các lỗ hổng của khung pháp lý nội địa với chuẩn mực quốc tế như Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ và thông lệ Thụy Điển. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai theo tiến trình 24 tháng, đặt trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, giúp đánh giá khách quan mối tương quan giữa sự thay đổi chính sách pháp luật và hiệu quả chu chuyển dòng vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, điều kiện thành lập và cấp phép hoạt động còn nhiều rào cản hành chính phức tạp. Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP và Nghị định số 10/2011/NĐ-CP, mức vốn pháp định đối với công ty cho thuê tài chính tăng từ 100 tỷ đồng lên 150 tỷ đồng vào năm 2011. Thời gian thẩm định cấp phép trên thực tế thường kéo dài từ 180 ngày đến hơn 240 ngày, vượt quá mốc 60 đến 90 ngày quy định tại Thông tư số 06/2005/TT-NHNN, gây khó khăn cho việc huy động cổ đông chiến lược.
Thứ hai, quy mô dư nợ cho thuê tài chính duy trì ở mức thấp, chưa phản ánh đúng nhu cầu hiện đại hóa công nghệ của hơn 400.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thống kê dư nợ giai đoạn 2007 - 2010 cho thấy: năm 2007 đạt khoảng 14.500 tỷ đồng, năm 2008 đạt 17.200 tỷ đồng, năm 2009 đạt 19.800 tỷ đồng và tính đến tháng 06/2010 đạt xấp xỉ 21.300 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân đạt khoảng 13,5%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng 25% - 30%/năm của tín dụng ngân hàng thương mại cùng kỳ.
Thứ ba, cơ chế huy động vốn bị bóp nghẹt bởi các quy định hạn chế. Do không được phép nhận tiền gửi tiết kiệm dưới 1 năm của cá nhân theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nguồn vốn hoạt động của các công ty phụ thuộc tới 75% - 80% vào vốn vay từ các ngân hàng thương mại mẹ và phát hành trái phiếu kỳ hạn dài. Điều này khiến chi phí vốn đầu vào bị đội lên thêm 2% - 3,5%/năm so với lãi suất bình quân của thị trường tiền tệ.
Thứ tư, bất cập nghiêm trọng trong xử lý tranh chấp và thu hồi tài sản khi khách hàng vi phạm hợp đồng. Khảo sát các bản án thực tế cho thấy thời gian thu hồi tài sản thông qua cơ quan thi hành án kéo dài bình quân từ 18 tháng đến 36 tháng. Trong thời gian này, tài sản máy móc thiết bị bị hao mòn vô hình và suy giảm giá trị cơ học lên tới 40% - 50%, đẩy tỷ lệ nợ xấu của một số công ty vượt ngưỡng 8%.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của thực trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật chuyên ngành ngân hàng với pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và tố tụng dân sự. Văn bản điều chỉnh trực tiếp cao nhất đối với công ty cho thuê tài chính trong suốt thời gian dài chỉ dừng lại ở cấp Nghị định (Nghị định số 16/2001/NĐ-CP), tạo ra khoảng trống pháp lý khi xử lý các giao dịch phức tạp như bán và thuê lại (sale and leaseback) hay cho thuê hợp vốn.
Khi đối chiếu với mô hình tại Hoa Kỳ, nơi công ty cho thuê tài chính vận hành tự do như một định chế phi ngân hàng chuyên biệt và được bảo vệ quyền tự thu hồi tài sản ngay khi bên thuê mất khả năng thanh toán, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn duy trì cơ chế can thiệp hành chính nặng nề. Toàn bộ diễn biến phân bổ vốn huy động và biến động dư nợ giai đoạn 2007 - 2010 có thể được hệ thống hóa trực quan qua bảng tổng hợp số liệu tăng trưởng và biểu đồ so sánh cơ cấu vốn, qua đó làm nổi bật sự mất cân đối kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có, củng cố tính xác thực cho các luận điểm phản biện chính sách của đề tài.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý trực tiếp bằng việc xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ trì rà soát, cắt giảm 30% thủ tục hành chính, rút ngắn thời hạn thẩm định và cấp phép thành lập từ 180 ngày xuống tối đa 60 ngày làm việc trong lộ trình thực hiện từ năm 2012 đến năm 2013.
Thứ hai, đa dạng hóa các kênh huy động vốn nhằm giảm tỷ trọng phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng từ 80% xuống dưới 50%. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần cho phép công ty cho thuê tài chính phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn từ 6 tháng trở lên cho các tổ chức kinh tế và nới lỏng hạn mức vay vốn ủy thác quốc tế với mục tiêu gia tăng tổng nguồn vốn huy động thêm 20% mỗi năm trong giai đoạn 2012 - 2015.
Thứ ba, cải cách thủ tục đăng ký quyền sở hữu và đăng ký giao dịch tài sản cho thuê tài chính. Bộ Tư pháp và Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm cần triển khai cổng đăng ký điện tử liên thông 100%, giảm thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký sở hữu thiết bị từ 15 ngày xuống còn 3 ngày làm việc, bắt đầu áp dụng từ quý II năm 2013.
Thứ tư, thiết lập cơ chế tố tụng và thi hành án đặc thù cho việc thu hồi tài sản cho thuê tài chính. Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng thuê tài chính rõ ràng về mặt chứng cứ, quy định thời gian xét xử không quá 60 ngày và cho phép bên cho thuê thu hồi tài sản khẩn cấp khi bên thuê quá hạn thanh toán 90 ngày nhằm kéo giảm tỷ lệ hao hụt giá trị tài sản xuống dưới 10% trong giai đoạn 2013 - 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính. Các đơn vị này có thể sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích bất cập về vốn pháp định 150 tỷ đồng làm tài liệu tham khảo trực tiếp để soạn thảo các thông tư nghiệp vụ và điều chỉnh quy chế an toàn hoạt động tín dụng phi ngân hàng.
Nhóm thứ hai là ban điều hành và đội ngũ chuyên viên pháp chế tại 12 công ty cho thuê tài chính cùng các công ty tài chính tổng hợp. Luận văn cung cấp tài liệu hữu ích giúp các nhà quản trị nhận diện 4 nhóm rủi ro vận hành, từ đó hoàn thiện quy trình thẩm định tín dụng, chuẩn hóa mẫu hợp đồng cho thuê và xây dựng chiến lược xử lý nợ xấu hiệu quả.
Nhóm thứ ba là cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã sản xuất kinh doanh có nhu cầu đầu tư máy móc công nghệ cao nhưng thiếu tài sản thế chấp. Luận văn giúp doanh nghiệp hiểu rõ cơ chế phân định quyền sở hữu và tối ưu hóa dòng tiền chi trả tiền thuê định kỳ thay vì vay vốn ngân hàng thương mại.
Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành Luật kinh tế và Tài chính - Ngân hàng. Đề tài đóng vai trò là nguồn tài liệu học thuật hệ thống về định chế tài chính trung gian, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu mở rộng về thị trường tài sản phái sinh.
Câu hỏi thường gặp
Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của những văn bản pháp luật then chốt nào? Loại hình này chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP, Nghị định số 65/2005/NĐ-CP, Nghị định số 95/2008/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn như Thông tư số 06/2005/TT-NHNN và Quyết định số 40/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước.
Mức vốn pháp định đối với công ty cho thuê tài chính được quy định cụ thể như thế nào? Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP và Nghị định số 10/2011/NĐ-CP của Chính phủ, mức vốn pháp định tối thiểu áp dụng cho công ty cho thuê tài chính là 100 tỷ đồng đến năm 2008 và phải nâng lên mức 150 tỷ đồng kể từ năm 2011 nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
Công ty cho thuê tài chính có được phép huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân không? Theo Khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng nên bị cấm nhận tiền gửi của cá nhân, chỉ được phép phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi hoặc vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác.
Điểm khác biệt căn bản giữa cho thuê tài chính và cho vay trung dài hạn của ngân hàng là gì? Trong cho vay ngân hàng, quyền sở hữu tài sản thuộc về bên vay và tài sản dùng làm thế chấp. Ngược lại, trong cho thuê tài chính, quyền sở hữu pháp lý đối với máy móc thiết bị thuộc về bên cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, bên thuê chỉ nắm quyền khai thác sử dụng.
Khi bên thuê chậm thanh toán, bên cho thuê tài chính có quyền tự thu hồi tài sản không? Pháp luật cho phép bên cho thuê chấm dứt hợp đồng trước hạn và yêu cầu hoàn trả tài sản. Tuy nhiên, nếu bên thuê không tự nguyện bàn giao, bên cho thuê buộc phải khởi kiện ra Tòa án nhân dân và thực hiện qua cơ quan thi hành án dân sự chứ chưa có quyền tự cưỡng chế.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện bản chất pháp lý và vai trò dẫn vốn của công ty cho thuê tài chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đánh giá chi tiết khung pháp lý từ năm 1995 đến năm 2010, chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn về cấp phép thành lập, huy động vốn, đăng ký tài sản và thu hồi nợ.
- Khảo sát thực trạng 12 công ty với quy mô dư nợ đạt xấp xỉ 21.300 tỷ đồng vào tháng 06/2010 để chứng minh sự bất cập giữa tiềm năng thị trường và thể chế pháp luật.
- Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống tín dụng phi ngân hàng trong giai đoạn 2012 - 2015.
- Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc sửa đổi, bổ sung các nghị định quản lý và hoàn thiện môi trường kinh doanh tài chính tại Việt Nam.
Trong các bước nghiên cứu tiếp theo từ năm 2012 trở đi, các nhà hoạch định chính sách cần nhanh chóng thể chế hóa quyền xử lý tài sản khẩn cấp của bên cho thuê vào Luật Tố tụng dân sự sửa đổi. Hãy chủ động liên hệ và khai thác toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng hiệu quả vào công tác quản trị rủi ro và hoàn thiện quy chế pháp lý nội bộ của doanh nghiệp.