Chương I: Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính Chương II: Thực trạng phát triển hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Chương III: Một số giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam 5 Luan van 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 1.1 Giới thiệu chung về hoạt động cho thuê tài chính Khái niệm cho thuê tài chính Cho thuê tài chính (CTTC) là một trong những dịch vụ tài chính ngân hàng đã phát triển mạnh tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển, tuy nhiên nó vẫn còn là dịch vụ khá mới mẻ tại Việt Nam. Cho đến nay chưa có một khuôn khổ pháp lý chung nào cho mọi giao dịch CTTC trên thế giới, các bên giao dịch thường dựa một trong các nguồn: Hiệp định thống nhất dân sự về CTTC quốc tế ( Hiệp hội cho thuê tài chính quốc tế thỏa thuận ngày 26/05/1988, tại Ohawa-Canada). Tiêu chuẩn CTTC của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standard Committee – IASC ), chuẩn mực số 17.
Luật điều chỉnh hoạt động CTTC của quốc gia. Về lý thuyết cũng như thực tiễn, hiện nay có nhiều quan điểm mới về CTTC. Tùy theo góc độ nghiên cứu, hoặc theo quy định của pháp luật mỗi nước khác nhau thì có khái niệm khác nhau. Theo công bố của IFC về cuộc điều tra tiến hành tại 37 quốc gia thì chỉ có 19 quốc gia có định nghĩa rõ ràng về CTTC.
Trong 19 quốc gia này cũng thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau: 9 quốc gia định nghĩa các giao dịch CTTC trong luật CTTC, 10 quốc gia còn lại định nghĩa chúng trong luật thuế, nghị định của Chính phủ hay thông tư về hoạch toán-kế toán của Bộ tài chính… Tại Việt Nam, khái niệm và các tiêu chuẩn giao dịch CTTC được thể hiện trong Nghị định của Chính phủ về hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam. Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên 6 Luan van thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.” Chuẩn mực số 06 “thuê tài sản” trong hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) ban hành theo quyết định 165/2002/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính nêu định nghĩa dưới góc độ người đi thuê : “Thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thuể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê” Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng: Theo thông lệ quốc tế, CTTC được hiểu đơn giản là một dịch vụ tín dụng dùng để tài trợ vốn thông qua cung cấp các tài sản cho thuê mà không yêu cầu phải có một tài sản cầm cố nào khác. Người cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản kèm theo lời hứa bán lại cho người thuê khi kết thúc với giá được thỏa thuận từ trước.
CTTC về bản chất là một hoạt động tín dụng, trong đó mục đích của người cho thuê cũng giống mục địch người cho vay là thu lãi trên vốn đầu tư, còn mục đích người đi thuê là sử dụng vốn. Người cho thuê cấp tín dụng dưới dạng hiện vật (tài sản) chứ không phải bằng tiền, nhưng thực chất là cung cấp tài chính (cho thuê quyền sử dụng vốn) nên được gọi là CTTC. Quan điểm về CTTC được quy định trong văn bản pháp lí của Việt Nam hiện nay kể trên, về cơ bản là phù hợp với chuẩn mực quốc tế về mặt bản chất. Tuy nhiên, cách đưa ra khái niệm như vậy đã gây ra một số giới hạn khi triển khai dịch vụ CTTC ở Việt Nam như: không áp dụng CTTC đối với bất động sản, người cho thuê là chủ sở hữu tài sản, như vậy không áp dụng phương thức thuê rồi cho thuê lại (cho thuê giáp lưng).
Mặt khác, cách diễn đạt tại điều 1 của Nghị định 16/2001/NĐ- CP là thiên về miêu tả trình tự và liệt kê các tiêu thức nhận biết một giao dịch CTTC, trong khi đó, cách diễn đạt CTTC theo chuẩn mực kế toán số 06 lại đề cập theo một khía cạnh khác mang tính chung chung, còn trừu tượng, gây khó hiểu. 7 Luan van Khái niệm được dẫn chiếu trong các văn bản pháp luật của cùng một hoạt động phải được đề cập trên cùng một góc độ và mang tính thống nhất, khái niệm phải thể hiện bản chất của hoạt động, phải mang tính bao quát và phù hợp với thực tiễn luôn vận động của nền kinh tế. Vì vậy, có thể đưa ra khái niệm CTTC dựa vào nghị định số 16/2001/NĐ-CP và quyết định số 165/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính như sau: “ CTTC là một dịch vụ tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê tài sản trên cơ sở hợp đồng giữa hai bên, trong đó người cho thuê nắm giữ quyền sở hữu tài sản và chuyển giao quyền sử dụng tài sản cùng với các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho người đi thuê trong cùng một thời gian nhất định. Khi kết thúc thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản , quyền chọn mua hoặc quyền thuê tiếp được người đi thuê lựa chọn theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng ”.
Khái niệm này thể hiện rõ bản chất, đặc trưng của hoạt động CTTC, phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường nước ta. Như vậy có thể thấy, hoạt động tín dụng trong nền kinh tế có thể dãn ra dưới hai hình thức, cho vay bằng tiền hoặc cho vay bằng tài sản. Theo thời gian, cùng với sự phát triển của nên kinh tế và sự phân công lao động xã hội, các giao dịch tín dụng này được tiêu chuẩn hóa và do các tổ chức tài chính trung gian thực hiện. Hình thức CTTC (cho vay bằng tài sản ) do các công ty CTTC thực hiện tuy ra đời sau so với hình thức cho vay bằng tiền của các NHTM nhưng lại gắn liền chặt chẽ với các yếu tố phát triển khoa học kĩ thuật cho nên đã được ứng dụng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ.
Cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cở sở hợp đồng cho thuê tài chính và hình thức cho thuê được gọi là cho thuê tài chính phải có một trong các điều kiện sau đây: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng; 8 Luan van Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua lại tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại; Thời hạn cho thuê tài chính là khoảng thời gian tính từ thời điểm bên thuê nhận nợ tiền thuê tài chính cho đến khi trả hết nợ tiền thuê đã được thỏa thuận ghi trong hợp đồng cho thuê tài chính. Thời điểm nhận nợ tiền thuê tài chính do công ty cho thuê tài chính thỏa thuận với bên thuê. Công ty cho thuê tài chính và bên thuê căn cứ chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng thanh toán tiền thuê của bên thuê để thỏa thuận thời hạn cho thuê tài chính.
Đối với tổ chức Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho thuê tài chính không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho thuê tài chính không vượt quá thời hạn được phép sinh sống và làm việc tại Việt Nam.1 Đặc thù của hoạt động cho thuê tài chính 1.1 Sự khác biệt giữa thuê tài chính và thuê hoạt động Thuê hoạt động: nhiều năm trước, một hợp đồng thuê tài sản mà trong đó bên đi thuê nhận được các thiết bị, kèm theo nhân viên vận hành thì được gọi là thuê hoạt động. Mặc dù ngày ngay thuê hoạt động không tuân theo một định nghĩa chính xác nào, nhưng hình thức thuê này có một số đặc điểm quan trọng: Thuê hoạt động thường có chi phí thuê không được khấu hao đầy đủ. Điều này nghĩa là các khoản thanh toán theo các điều khoản của hợp đồng thuê thường không đủ để thu hồi toàn bộ chi phí của tài sản cho bên cho thuê. Điều này xảy ra bởi vì kỳ hạn, hay đời sống của thuê hoạt động thường ngắn hơn so với đời sống kinh tế của tài sản.
Do đó, bên cho thuê phải trông chờ thu hồi đủ chi phí của tài sản bằng cách tiếp tục tái cho thuê hoặc bán tài sản theo giá trị còn lại của nó. Thuê hoạt động thường yêu cầu bên cho thuê chịu trách nhiệm bảo trì và bảo hiểm tài sản cho thuê. 9 Luan van Có lẽ đặc điểm thú vị nhất của thuê hoạt động là quyền chọn hủy bỏ (cancel-lation option). Quyền chọn này cho phép bên thuê có quyền hủy hợp đồng thuê trước ngày hợp đồng hết hiệu lực.
Nếu quyền chọn hủy hợp đồng được thực hiện, thì bên thuê phải hoàn trả lại thiết bị cho bên cho thuê.