Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nhận diện các nhân tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở tp hcm góc nhìn từ trải nghiệm của người đại diện vốn

Luận văn thạc sĩ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp TP.HCM.

Trường đại học

Trường Đại học Bách Khoa

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về người đại diện vốn nhà nước

Người đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Họ được ủy quyền bởi Chủ sở hữu vốn nhà nước để thực hiện quyền và trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, vai trò này thường bị xem nhẹ, dẫn đến hiệu quả công việc không cao. Theo nghiên cứu của Dakota (2020), động lực làm việc của người đại diện ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc. Do đó, việc nâng cao động lực làm việc của họ là cần thiết để cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

1.1. Động lực làm việc của người đại diện

Động lực làm việc của người đại diện vốn nhà nước được hình thành từ nhiều yếu tố, bao gồm động lực bên trong và bên ngoài. Động lực bên trong liên quan đến sự hài lòng và cảm giác thành công trong công việc, trong khi động lực bên ngoài thường liên quan đến các yếu tố như thu nhập, khen thưởng và môi trường làm việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng động lực làm việc cao sẽ dẫn đến hiệu suất làm việc tốt hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

II. Các nhân tố tác động đến động lực làm việc

Nghiên cứu đã xác định bảy nhân tố chính tác động đến động lực làm việc của người đại diện vốn nhà nước, bao gồm: (1) Động lực bên trong, (2) Động lực bên ngoài, (3) Rủi ro và chấp nhận rủi ro, (4) Chiết khấu thời gian, (5) Chế độ chính sách về thu nhập và khen thưởng, (6) Phân công nhiệm vụ và giám sát, (7) Sự cảm nhận về công bằng và bất công. Mỗi nhân tố đều có ảnh hưởng riêng đến động lực làm việc và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước.

2.1. Động lực bên trong và bên ngoài

Động lực bên trong thường liên quan đến sự thỏa mãn cá nhân và cảm giác đạt được mục tiêu, trong khi động lực bên ngoài phụ thuộc vào các yếu tố như thu nhập và khen thưởng. Nghiên cứu cho thấy rằng sự kết hợp giữa hai loại động lực này sẽ tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích người đại diện vốn nhà nước cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp.

2.2. Rủi ro và chấp nhận rủi ro

Người đại diện vốn nhà nước thường phải đối mặt với nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Sự chấp nhận rủi ro không chỉ ảnh hưởng đến quyết định cá nhân mà còn tác động đến động lực làm việc của họ. Nếu người đại diện cảm thấy rủi ro quá cao mà không có sự hỗ trợ từ chính sách, họ có thể mất động lực và hiệu quả công việc sẽ giảm sút.

III. Đề xuất hàm ý quản trị

Để nâng cao động lực làm việc của người đại diện vốn nhà nước, cần có các chính sách quản lý hiệu quả. Các chính sách này nên tập trung vào việc cải thiện chế độ thu nhập, tạo ra môi trường làm việc công bằng và khuyến khích sự sáng tạo. Việc phân công nhiệm vụ rõ ràng và có sự giám sát chặt chẽ cũng sẽ giúp người đại diện cảm thấy có trách nhiệm hơn với công việc của mình.

3.1. Cải thiện chế độ thu nhập

Chế độ thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến động lực làm việc. Cần có sự điều chỉnh hợp lý để đảm bảo rằng người đại diện nhận được mức thu nhập tương xứng với công sức và trách nhiệm của họ. Điều này không chỉ giúp tăng cường động lực làm việc mà còn giữ chân nhân tài trong các doanh nghiệp nhà nước.

3.2. Tạo môi trường làm việc công bằng

Môi trường làm việc công bằng sẽ tạo điều kiện cho người đại diện vốn nhà nước phát triển và cống hiến. Cần có các chính sách rõ ràng về khen thưởng và xử lý vi phạm để đảm bảo rằng mọi người đều được đối xử công bằng. Sự công bằng trong công việc sẽ góp phần nâng cao động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện.

09/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1. Tổng quan Tại buổi làm việc của Thường trực Chính phủ với Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương về lãnh đạo, chỉ đạo công tác cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngày 12/07/2022. Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao, thể hiện vai trò nòng cốt trong một số ngành, lĩnh vực và tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, góp phần dẫn dắt, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển. Bên cạnh vai trò và thành tích đạt được như trên, các năm qua một sô DNNN vẫn còn tồn tại những hạn chế chưa được khắc phục như: Hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh còn thấp; Đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh và đổi mới quản trị doanh nghiệp còn chậm, chưa thực sự tiệm cận theo các nguyên tắc và thông lệ quốc tế tốt.

Nhiều năm qua, tuy nắm giữ nguồn lực lớn nhưng không có các dự án đầu tư qui mô lớn để tạo động lực bứt phá cho nền kinh tế, nhất là trong các lĩnh vực mới như sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghiệp 4. Công tác kiểm tra giám sát hoạt động của DNNN, của người quản lý DN (doanh nghiệp) có vốn nhà nước và người đại diện vốn nhà nước tại các DN các năm qua luôn được các cấp, các ngành xem trọng. Tuy nhiên hiệu quả của việc giám sát chưa cao, chưa tạo được động lực cho DN đổi mới quản trị theo hướng hiện đại, chưa khuyến khích sự chủ động, tự chủ của người quản lý, người dại diện vốn trong các DN có vốn NN (nhà nước). Vai trò, chức năng nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước trong các DN có vốn nhà nước còn mờ nhạt.

Công việc của người đại diện chỉ là công việc kiêm nhiệm. Trong khi người đại diện vốn nhà nước lẽ ra là những người phải làm việc với tư cách thay mặt ông chủ là Nhà nước. 2 Theo Quy định nhà nước ta, Người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (gọi tắt là người DDV) là cán bộ được Chủ sở hữu phần vốn nhà nước ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của Chủ sở hữu phần vốn nhà nước. Người DDV trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước mang nhiều trọng trách đối với vai trò được giao, do vậy nâng cao hiệu quả công việc của người đại diện vốn nhà nước luôn luôn là một nội dung quan trọng trong phát triển đội ngũ cán bộ nhà nước.

Nghiên cứu của Dakota (2020) cho thấy rằng một nhân viên có động lực cao sẽ có mức hiệu quả làm việc cao hơn. Trên tinh thần như vậy việc vận dụng các lý thuyết quản trị để phân tích các yếu tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu Peter & Gore (2015) đặt động lực và hiệu quả làm việc của đại diện làm trung tâm của mô hình. Họ đề xuất một sự tái nhận thức, phát triển một mô hình mới giả định tính hợp lý có giới hạn, công nhận tầm quan trọng vốn vốn con người của đại diện (coi đây là hàm của khả năng và động lực làm việc), và cho phép khởi tạo mô hình sự lựa chọn hợp lý khi nói đến sự sợ mất mát, sự sợ rủi ro và không chắc chắn, quan điểm về chiết khấu theo thời gian, ác cảm về sự bất bình đẳng, sự đánh đổi giữa động lực nội tại và bên ngoài.

Tại Việt Nam, liên quan đến vấn đề người đại diện vốn nhà nước đã có các nghiên cứu như: “Vấn đề người đại diện sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp” (Binh Tran & Huong Nguyen – 2017); “Vướng mắc, bất cập trong quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghiệp” (Van Pham, 2020); “Vốn nhà nước, người đại diện và những công ty âm vốn (Tuan Ho, 2020)…các nghiên cứu đã nêu ra thực trạng về người đại diện vốn nhà nước, các bất cập của chính sách ảnh hưởng đến động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn…Tuy nhiên các nghiên cứu và báo cáo này đều chưa lấy động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn làm trọng tâm cho nghiên 3 cứu. Từ đó cho thấy cần phải có một nghiên cứu đi sâu phân tích động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện trong các doanh nghiệp nhà nước. Từ những phân tích trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Nhận diện các nhân tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở TP.HCM – góc nhìn từ trải nghiệm của người đại diện vốn”. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các nhân tố tác động đến động lực làm việc của đại diện vốn nhà nước tại các DN Việt Nam, từ đó gợi ý các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu: Các nhân tố quan trọng tác động lên động lực thực hiện thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn là gì? Các đề xuất quản trị giúp nâng cao động lực từ đó giúp nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn là gì? 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn tại hai (02) doanh nghiệp có vốn nhà nước, đó là một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc UBND TP. Hồ Chí Minh – có chức năng đại diện sở hữu vốn nhà nước và một doanh nghiệp Công ty cổ phần có vốn nhà nước không chi phối (nhỏ hơn 50%) là Cty liên kết của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên. Ý nghĩa đề tài: Đề tài nghiên cứu được thực hiện sẽ đem lại các góc nhìn đa chiều về những nhân tố tác động lên động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, từ đó cho phép đề xuất các giải pháp về chính sách nhằm nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước đầu tư sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu: Động lực thực hiện nhiệm của người DDV là trạng thái mang tính cá nhân, số lượng các nhân tố và sự cảm nhận mức độ tác động của nó lên động lực làm việc của 4 mỗi người DDV sẽ không giống nhau. Vì vậy phương pháp định lượng thống kê sẽ hạn chế vì không thể đi sâu vào trải nghiệm sống của từng người DDV trong việc nhận diện các nhân tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người DDV. Để có thể nắm bắt được hiện tượng này theo đúng những gì đã diển ra trong tư duy của người DDV, tôi chọn phương pháp phân tích hiện tượng diễn dịch (Interpretative Phenomenological Analysis – IPA) làm phương pháp nghiên cứu cho luận văn này. 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.

Người đại diện Theo Trang (2020), quy định tại khoản 1(1) của tu chỉnh của Luật về đại diện xuất bản lần 3 -2006 của Hoa kỳ ghi như sau: “Một quan hệ uỷ thác (fiduciary) là kết quả từ sự đồng ý của một người cho phép người khác thay mặt mình, kiểm soát người khác hành động thay mình và người khác cũng đồng ý hành động như vậy”. Với định nghĩa này, có thể thấy rằng một quan hệ được coi là quan hệ đại diện nếu quan hệ đó thoả mãn 3 điều kiện sau: Một là, có sự đồng ý của người đại diện và người được đại diện, đây là điều kiện đầu tiên để xác lập quan hệ đại diện. Theo đó, để xác lập quan hệ đại diện, buộc phải có sự đồng ý của người được đại diện và người đại diện, cụ thể: (1) người được đại diện phải bày tỏ sự đồng ý để người đại diện thay mặt mình hành động và kiểm soát hành động của người đại diện; và (2) người đại diện cũng phải đồng ý với người được đại diện về hai nội dung đó. Sự đồng ý của các bên trong quan hệ đại diện phải được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc có thể được hiểu ngầm định từ hành động của các bên trong quan hệ đại diện.

Hai là, người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện Trong quan hệ đại diện, người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện. Việc thay mặt này được hiểu là người đại diện sẽ hành động với tư cách của người được đại diện, vì lợi ích của người được đại diện chứ không phải vì lợi ích của chính người đại diện hay của một bên thứ ba nào khác. Nếu trong phạm vi đại diện, người đại diện xác lập giao dịch với một bên thứ ba thì giao dịch đó được coi là giữa người được đại diện và bên thứ ba. Ba là, người được đại diện sẽ kiểm soát hành động của người đại diện Người đại diện sẽ hành động dưới sự kiểm soát của người được đại diện là một điều kiện bắt buộc trong quan hệ đại diện.

Lý do phải có sự kiểm soát này là bởi trong quan hệ đại diện, người đại diện phải hành động trong phạm vi được đại diện. Sự kiểm soát của người được đại diện sẽ một phần giúp cho người đại diện không hành động vượt quá phạm vi này. Mâu thuẫn lợi ích giữa người chủ và người đại diện Trong doanh nghiệp, mỗi tác nhân đều chạy theo những mục đích riêng của mình. Trong khi mục đích của chủ sở hữu (cổ đông) nhằm tối đa hóa lợi tức trong ngắn hạn và tăng giá trị cổ phiểu trong dài hạn, thì các nhà quản lý theo cũng theo đuổi nguyên tắc tối đa hóa tiện ích (seek to maximize expected utility) của mình (Jensen và Meckling, 1976).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ "Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở TP.HCM" của tác giả Bùi Văn Xuân, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thu Hiền, nghiên cứu sâu về các yếu tố tác động đến động lực làm việc của người đại diện vốn nhà nước. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về bối cảnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước tại TP.HCM mà còn chỉ ra những yếu tố chính như môi trường làm việc, chính sách đãi ngộ và vai trò lãnh đạo trong việc thúc đẩy động lực làm việc của đại diện vốn. Những phát hiện này có thể giúp các nhà quản lý cải thiện hiệu quả công việc và nâng cao động lực cho đội ngũ nhân viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, nơi đề cập đến các phương pháp tạo động lực cho nhân viên trong ngành ngân hàng. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa cũng cung cấp những góc nhìn thú vị về việc nâng cao động lực làm việc trong lĩnh vực viễn thông. Cuối cùng, bài viết Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong lĩnh vực tài chính. Những tài liệu này sẽ hỗ trợ bạn trong việc mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về động lực làm việc trong các tổ chức.