CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1. Tổng quan Tại buổi làm việc của Thường trực Chính phủ với Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương về lãnh đạo, chỉ đạo công tác cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngày 12/07/2022. Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao, thể hiện vai trò nòng cốt trong một số ngành, lĩnh vực và tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, góp phần dẫn dắt, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển. Bên cạnh vai trò và thành tích đạt được như trên, các năm qua một sô DNNN vẫn còn tồn tại những hạn chế chưa được khắc phục như: Hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh còn thấp; Đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh và đổi mới quản trị doanh nghiệp còn chậm, chưa thực sự tiệm cận theo các nguyên tắc và thông lệ quốc tế tốt.
Nhiều năm qua, tuy nắm giữ nguồn lực lớn nhưng không có các dự án đầu tư qui mô lớn để tạo động lực bứt phá cho nền kinh tế, nhất là trong các lĩnh vực mới như sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghiệp 4. Công tác kiểm tra giám sát hoạt động của DNNN, của người quản lý DN (doanh nghiệp) có vốn nhà nước và người đại diện vốn nhà nước tại các DN các năm qua luôn được các cấp, các ngành xem trọng. Tuy nhiên hiệu quả của việc giám sát chưa cao, chưa tạo được động lực cho DN đổi mới quản trị theo hướng hiện đại, chưa khuyến khích sự chủ động, tự chủ của người quản lý, người dại diện vốn trong các DN có vốn NN (nhà nước). Vai trò, chức năng nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước trong các DN có vốn nhà nước còn mờ nhạt.
Công việc của người đại diện chỉ là công việc kiêm nhiệm. Trong khi người đại diện vốn nhà nước lẽ ra là những người phải làm việc với tư cách thay mặt ông chủ là Nhà nước. 2 Theo Quy định nhà nước ta, Người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (gọi tắt là người DDV) là cán bộ được Chủ sở hữu phần vốn nhà nước ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của Chủ sở hữu phần vốn nhà nước. Người DDV trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước mang nhiều trọng trách đối với vai trò được giao, do vậy nâng cao hiệu quả công việc của người đại diện vốn nhà nước luôn luôn là một nội dung quan trọng trong phát triển đội ngũ cán bộ nhà nước.
Nghiên cứu của Dakota (2020) cho thấy rằng một nhân viên có động lực cao sẽ có mức hiệu quả làm việc cao hơn. Trên tinh thần như vậy việc vận dụng các lý thuyết quản trị để phân tích các yếu tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu Peter & Gore (2015) đặt động lực và hiệu quả làm việc của đại diện làm trung tâm của mô hình. Họ đề xuất một sự tái nhận thức, phát triển một mô hình mới giả định tính hợp lý có giới hạn, công nhận tầm quan trọng vốn vốn con người của đại diện (coi đây là hàm của khả năng và động lực làm việc), và cho phép khởi tạo mô hình sự lựa chọn hợp lý khi nói đến sự sợ mất mát, sự sợ rủi ro và không chắc chắn, quan điểm về chiết khấu theo thời gian, ác cảm về sự bất bình đẳng, sự đánh đổi giữa động lực nội tại và bên ngoài.
Tại Việt Nam, liên quan đến vấn đề người đại diện vốn nhà nước đã có các nghiên cứu như: “Vấn đề người đại diện sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp” (Binh Tran & Huong Nguyen – 2017); “Vướng mắc, bất cập trong quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghiệp” (Van Pham, 2020); “Vốn nhà nước, người đại diện và những công ty âm vốn (Tuan Ho, 2020)…các nghiên cứu đã nêu ra thực trạng về người đại diện vốn nhà nước, các bất cập của chính sách ảnh hưởng đến động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn…Tuy nhiên các nghiên cứu và báo cáo này đều chưa lấy động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn làm trọng tâm cho nghiên 3 cứu. Từ đó cho thấy cần phải có một nghiên cứu đi sâu phân tích động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện trong các doanh nghiệp nhà nước. Từ những phân tích trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Nhận diện các nhân tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở TP.HCM – góc nhìn từ trải nghiệm của người đại diện vốn”. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các nhân tố tác động đến động lực làm việc của đại diện vốn nhà nước tại các DN Việt Nam, từ đó gợi ý các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực và hiệu quả làm việc của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu: Các nhân tố quan trọng tác động lên động lực thực hiện thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn là gì? Các đề xuất quản trị giúp nâng cao động lực từ đó giúp nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn là gì? 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn tại hai (02) doanh nghiệp có vốn nhà nước, đó là một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc UBND TP. Hồ Chí Minh – có chức năng đại diện sở hữu vốn nhà nước và một doanh nghiệp Công ty cổ phần có vốn nhà nước không chi phối (nhỏ hơn 50%) là Cty liên kết của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên. Ý nghĩa đề tài: Đề tài nghiên cứu được thực hiện sẽ đem lại các góc nhìn đa chiều về những nhân tố tác động lên động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, từ đó cho phép đề xuất các giải pháp về chính sách nhằm nâng cao động lực thực hiện nhiệm vụ của người đại diện vốn nhà nước đầu tư sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu: Động lực thực hiện nhiệm của người DDV là trạng thái mang tính cá nhân, số lượng các nhân tố và sự cảm nhận mức độ tác động của nó lên động lực làm việc của 4 mỗi người DDV sẽ không giống nhau. Vì vậy phương pháp định lượng thống kê sẽ hạn chế vì không thể đi sâu vào trải nghiệm sống của từng người DDV trong việc nhận diện các nhân tố tác động đến động lực thực hiện nhiệm vụ của người DDV. Để có thể nắm bắt được hiện tượng này theo đúng những gì đã diển ra trong tư duy của người DDV, tôi chọn phương pháp phân tích hiện tượng diễn dịch (Interpretative Phenomenological Analysis – IPA) làm phương pháp nghiên cứu cho luận văn này. 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Người đại diện Theo Trang (2020), quy định tại khoản 1(1) của tu chỉnh của Luật về đại diện xuất bản lần 3 -2006 của Hoa kỳ ghi như sau: “Một quan hệ uỷ thác (fiduciary) là kết quả từ sự đồng ý của một người cho phép người khác thay mặt mình, kiểm soát người khác hành động thay mình và người khác cũng đồng ý hành động như vậy”. Với định nghĩa này, có thể thấy rằng một quan hệ được coi là quan hệ đại diện nếu quan hệ đó thoả mãn 3 điều kiện sau: Một là, có sự đồng ý của người đại diện và người được đại diện, đây là điều kiện đầu tiên để xác lập quan hệ đại diện. Theo đó, để xác lập quan hệ đại diện, buộc phải có sự đồng ý của người được đại diện và người đại diện, cụ thể: (1) người được đại diện phải bày tỏ sự đồng ý để người đại diện thay mặt mình hành động và kiểm soát hành động của người đại diện; và (2) người đại diện cũng phải đồng ý với người được đại diện về hai nội dung đó. Sự đồng ý của các bên trong quan hệ đại diện phải được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc có thể được hiểu ngầm định từ hành động của các bên trong quan hệ đại diện.
Hai là, người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện Trong quan hệ đại diện, người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện. Việc thay mặt này được hiểu là người đại diện sẽ hành động với tư cách của người được đại diện, vì lợi ích của người được đại diện chứ không phải vì lợi ích của chính người đại diện hay của một bên thứ ba nào khác. Nếu trong phạm vi đại diện, người đại diện xác lập giao dịch với một bên thứ ba thì giao dịch đó được coi là giữa người được đại diện và bên thứ ba. Ba là, người được đại diện sẽ kiểm soát hành động của người đại diện Người đại diện sẽ hành động dưới sự kiểm soát của người được đại diện là một điều kiện bắt buộc trong quan hệ đại diện.
Lý do phải có sự kiểm soát này là bởi trong quan hệ đại diện, người đại diện phải hành động trong phạm vi được đại diện. Sự kiểm soát của người được đại diện sẽ một phần giúp cho người đại diện không hành động vượt quá phạm vi này. Mâu thuẫn lợi ích giữa người chủ và người đại diện Trong doanh nghiệp, mỗi tác nhân đều chạy theo những mục đích riêng của mình. Trong khi mục đích của chủ sở hữu (cổ đông) nhằm tối đa hóa lợi tức trong ngắn hạn và tăng giá trị cổ phiểu trong dài hạn, thì các nhà quản lý theo cũng theo đuổi nguyên tắc tối đa hóa tiện ích (seek to maximize expected utility) của mình (Jensen và Meckling, 1976).