CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA KINH DOANH 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại, nói cách khác, văn hóa có từ thủa bình minh của xã hội loài người. Bản thân về vấn đề văn hóa rất phức tạp, đa dạng. Do vậy, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến nhiều quan niệm về văn hóa: Định nghĩa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.Tylor đưa ra năm 1871: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội” (dẫn theo Dương Thị Liễu, giáo trình văn hóa kinh doanh, 2011). Định nghĩa này nêu nên khá đầy đủ các khía cạnh của văn hóa tinh thần, nhưng lại ít quan tâm đến văn hóa vật chất, là bộ phận khá phong phú trong kho tàng văn hóa nhân loại.
Vào năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Định nghĩa của Hồ Chí Minh đã khắc phục những quan niệm phiến diện về văn hoá trong lịch sử.
Trong Từ điển tiếng Việt, văn hóa được định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. Phát triển cách tiếp cận này, Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này khẳng định văn hóa là những sáng tạo của con người, mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Những giá trị văn hóa này được lắng đọng và kết tinh từ đời sống thực tiễn của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà họ đang sống.
5 Luan van Từ những khái niệm về văn hóa kể trên, với phạm vi đề tài này có thể hiểu: “Văn hóa là toàn bộ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người được sáng tạo ra trong quá trình lao động ( từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường xung quanh (môi trường tự nhiên và xã hội) và tính cách của từng tộc người. Văn hóa ảnh hướng tới tình cảm, ý nghĩ và hành vi của con người”.2 Khái niệm văn hóa kinh doanh Văn hoá kinh doanh là một khái niệm đã có từ lâu trên thế giới, song nó là một khái niệm mới (một cách tương đối) và mở ở Việt Nam. Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hoá kinh doanh nữa mà từ góc độ của bản thân, mỗi cá thể sẽ bổ sung thêm khi đặt mình vào công việc của một doanh nhân đang kinh doanh một cách có văn hoá. Văn hoá kinh doanh có thể xem là chìa khoá mở ra sự thành công và phát triển của cả nền kinh tế đất nước nói chung, của mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Trong kinh doanh, văn hóa tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức đến các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, cách bố trí tổ chức nhân sự đến hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức và các phương thức quản lý kinh doanh để tạo hiệu quả cao nhất cho hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt đẹp và cái đẹp. Từ đó có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa kinh doanh: “Văn hóa kinh doanh là toàn bộ bcác nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó.3 Phát triển văn hóa kinh doanh Phát triển văn hóa kinh doanh là phát triển hài hoà giữa kinh tế và văn hoá, để văn hóa kinh doanh phát triển cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hoá và con người trong phát triển kinh tế. Một là: "Tạo lập môi trường văn hoá pháp lý, thị trường sản phẩm văn hoá minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển văn hoá." Tạo lập môi trường văn hoá pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng cho việc xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phát triển.
Nói đến kinh tế là nói đến thị trường. Cơ chế thị trường vừa điều tiết vừa thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển. Trên 6 Luan van lĩnh vực văn hoá, thị trường trao đổi các sản phẩm văn hoá có minh bạch, tiến bộ, hiện đại mới tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tích cực tham gia xây dựng, phát triển văn hoá. Như vậy, minh bạch, tiến bộ, hiện đại là phẩm chất, là mục đích thị trường văn hoá cần hướng tới.
Hai là: "Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân với ý thức tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh, vì sự phát triển bền vững và bảo vệ tổ quốc". Có hai thành tố rất quan trọng gây dựng tố chất văn hoá kinh doanh. Đó là doanh nghiệp và doanh nhân. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế trực tiếp sản xuất kinh doanh.
Doanh nhân là người đóng vai trò quyết định sự thành bại của sản xuất kinh doanh. Xây dựng văn hoá trong kinh doanh phải bắt đầu từ xây dựng văn hoá trong mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân. Còn văn hoá doanh nhân là biểu hiện nhân cách của doanh nhân trong sản xuất kinh doanh, trong xử sự với các thành viên trong tổ chức; "là hệ thống giá trị của mẫu người kinh doanh được tích lũy trong thời gian". Hai thành tố trên làm nên diện mạo văn hoá của một nền kinh doanh.
Ba là: "Phát huy ý thức và tinh thần dân tộc, doanh nghiệp, doanh nhân xây dựng và phát triển các thương hiệu Việt Nam có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế." Thương hiệu phản ánh giá trị, đẳng cấp, uy tín của doanh nghiệp gắn với vai trò của doanh nhân. Thương hiệu thể hiện ở các sản phẩm mà doanh nghiệp làm ra thông qua chất lượng, kiểu dáng, giá thành, thông qua việc bảo hành sản phẩm và sự chia sẻ với người tiêu dùng về những sản phẩm bị lỗi để lấy được sự tin cậy của người tiêu dùng. Thương hiệu của doanh nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng vừa góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, góp phần tạo nên giá trị của mỗi quốc gia.2 Các nội dung lý thuyết cơ bản về văn hóa kinh doanh và phát triển văn hóa kinh doanh 1.1 Đặc trưng cơ bản của văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là văn hóa của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, văn hóa kinh doanh là một bộ phận trong nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội. Vì thế, nó cũng mang những đặc điểm chung của văn hóa như: - Tính tập quán: Hệ thống các giá trị của văn hóa kinh doanh sẽ quy định những hành vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay 7 Luan van môi trường kinh doanh cụ thể.
Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại như một sự khẳng định những nét độc đáo đó là tập quán chăm lo đến đời sống riêng của người lao động trong các doanh nghiệp. - Tính cộng đồng: Kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc trưng với mục tiêu là lợi nhuận của chủ và các nhu cầu được đáp ứng của khách, kinh doanh không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động. Do đó, văn hóa kinh doanh - thuộc tính vốn có của văn hoá kinh doanh - sẽ là quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng kinh doanh. Văn hóa kinh doanh bao gồm những giá trị, những lề thói, những tập tục… mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc.
- Tính dân tộc: Tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hóa kinh doanh, vì bản thân văn hoá kinh doanh là một tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc và mỗi chủ thể kinh doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị của văn hóa dân tộc. Khi các giá trị của văn hóa dân tộc được thẩm thấu vào tất cả các hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của những người làm kinh doanh trong cùng một dân tộc. - Tính chủ quan: Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm, phương hướng, chiến lược và cách thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh cụ thể. Tính chủ quan của văn hóa kinh doanh được thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có những suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc và hiện tượng kinh doanh.
- Tính khách quan: Mặc dù văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả quá trình với sự tác động của rất nhiều nhân tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập… nên văn hóa kinh doanh tồn tại khách quan ngay cả với chính chủ thể kinh doanh. Có những giá trị của văn hóa kinh doanh buộc chủ thể kinh doanh phải chấp nhận nó chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình.