Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cổ phần hoá Ngân hàng Thƣơng mại Nhà nƣớc. Chương 2: Nội dung cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam. Chương 3: Định hƣớng và một số giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam. z 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ. Lịch sử ra đời cổ phần hoá. Tư nhân hoá (privatization), phi quốc hoá (denationalization) và cổ phần hoá (equitization) đã trở thành những hiện tượng phổ biến từ những năm 1980 tại nhiều quốc gia trên thế giới bất kể là các nước phát triển như Pháp, Anh hay những nền kinh tế đang chuyển đổi như Ba Lan, Hungary. Quá trình này bao gồm mọi lĩnh vực từ ngành công nghiệp truyền thông cho đến các lĩnh vực năng lượng (kể cả năng lượng nguyên tử) ngân hàng và bảo hiểm.
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể vì trong các từ ngữ trên, về cơ bản quá trình này được hiểu là sự chuyển đổi sở hữu từ Nhà nước sang khu vực tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả vận hành các quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, giảm bớt sức ép đè nặng lên ngân sách Nhà nước. Tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp thu hút được các nguồn vốn dài hạn cũng như tạo động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cổ phần hoá đã ra đời hàng trăm năm nay. Khởi thuỷ sản xuất tiểu thủ công nghiệp sang thời gian phát triển đã hình thành các Công ty tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Quá trình phát triển tiếp đòi hỏi phải có nhiều vốn hơn và chủ các Công ty này phải kêu gọi thêm vốn. Khi có nhiều người khác tham gia góp vốn thì phá vỡ tính độc quyền của một chủ duy nhất, đòi hỏi hình thành cấp quản trị - đại diện của các chủ sở hữu và việc điều hành hoạt động cũng không thể từng chủ duy nhất nữa. Như vậy, việc cổ phần hoá mục đích tăng vốn chủ sở hữu nhưng đã kéo theo cơ cấu tổ chức của Công ty phải thay đổi và cơ chế giám sát hoạt động của Công ty z 7 cũng thay đổi. Ngoài sự giám sát của các tổ chức tư nhân và trách nhiệm hữu hạn thì phải chịu thêm sự giám sát của Hội đồng quản trị, của Đại hội cổ đông và thị trường chứng khoán khi phát hành cổ phiếu trên thị trường.
Như vậy, có thể thấy cổ phần hoá là vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới, kể cả các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho đến các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu. Đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam với hàng vạn doanh nghiệp Nhà nước cần thực hiện việc chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần. Nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia góp vốn và quản lý doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu. Trong trường hợp Nhà nước còn nắm giữ vốn trong các doanh nghiệp sau cổ phần hoá thì Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là một nhà đầu tư.
Vai trò chi phối của Nhà nước trong doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ nắm giữ vốn. Nói một cách khác, vai trò của Nhà nước với tư cách là nhà bảo hộ trở thành nhà đầu tư. Cổ phần hoá doanh nghiệp là con đẻ của nền kinh tế thị trường và đã được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, đem lại nhiều thành công lớn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) là hướng đi hợp lý nhất đối với khu vực kinh tế Nhà nước, nhất là điều kiện như ở Việt Nam: Thiếu vốn, nợ quá hạn, quản lý yếu kém, công nghệ lạc hậu,.
Ngân hàng Thương mại Nhà nước(NHTMNN) trước hết là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Để hiểu rõ về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước, cần tìm hiểu cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước mà trước hết là tìm hiểu một số nét về Công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước, hai đối tượng nghiên cứu cơ bản của cổ phần hoá. z 8 Công ty cổ phần. Sự ra đời của loại hình Công ty cổ phần gắn liền với trình độ phát triển xã hội hoá nền kinh tế sản xuất và sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Loại hình Công ty cổ phần ra đời từ thế kỷ XVI ở các nước phát triển Châu Âu, đến nay đã có lịch sử phát triển mấy trăm năm. Công ty cổ phần ra đời không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng lao động nào mà là một quá trình kinh tế khách quan, do các nguyên nhân như: Quá trình xã hội hoá tư bản, tăng cường tích luỹ và tập trung tư bản ngày càng cao. Tác động của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Sự phân tán tư bản để tránh rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh về quản lý: Sự ra đời và phát triển rộng rãi của các định chế tài chính. Công ty cổ phần có nhiều ưu điểm: Huy động vốn nhanh, nguồn vốn lớn phong phú; năng động, sáng tạo, linh hoạt và chuyên môn hoá trong quản lý điều hành.
Do chức năng vốn tách rời quyền sở hữu nên cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp đồng thời tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau vào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng về quyền, trách nhiệm và lợi ích của các cổ đông theo mức góp vốn: Giới hạn và trách nhiệm quản lý, mỗi cổ đông của Công ty chịu trách nhiệm về mặt pháp lý trên số vốn đã đầu tư vào Công ty. Tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù, chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của Công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ nợ khi Công ty bị phá sản. Vốn tự có của Công ty huy động thông qua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông. z 9 Công ty cổ phần là hình thức tổ chức mang tính xã hội hoá cao không những thể hiện ở phương diện sở hữu mà còn thể hiện tập trung ở việc sử dụng vốn.
Có hai cách để thành lập Công ty cổ phần: 1. Thành lập Công ty cổ phần mới. Chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các Doanh nghiệp Nhà nước (gọi là cổ phần hoá), Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư nhân. Doanh nghiệp Nhà nước.
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục đích kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới mặc dù quy mô và vị trí của nó có khác nhau ở từng nước. Nhìn từ góc độ lịch sử, doanh nghiệp Nhà nước phát triển mạnh trên thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ II. Sự thăng trầm của Doanh nghiệp Nhà nước trên thế giới có sự liên hệ khá chặt chẽ với sự ra đời, phát triển và suy yếu tạm thời của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Sự ra đời hàng loạt Doanh nghiệp Nhà nước ở Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh trước và sau chiến tranh thế giới lần II chịu ảnh hưởng của những thành công kinh tế mà doanh nghiệp Nhà nước ở Liên Xô tạo ra. Dưới ảnh hưởng này, Doanh nghiệp Nhà nước ở các quốc gia mới giành được độc lập như Ai Cập, Xiri, Ănggola, Ba Lan, CHDC Đức,. đều tổ chức hoạt động chủ yếu thông qua các Doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả ở nhiều nước, Doanh nghiệp Nhà nước trở thành gánh nặng của ngân sách Nhà nước.
Tình trạng này đã tạo nên làn sóng tư nhân hoá Doanh nghiệp Nhà nước ở các nước TBCN vào cuối những năm z 10 1960, đầu năm 1970. Doanh nghiệp Nhà nước cũng chịu sức ép của cải cách và cổ phần hoá hoặc tư nhân hoá ở các nước đang phát triển. Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây, làn sóng tư nhân hoá diễn ra sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội đã gần như xoá sổ các doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước hiện nay vẫn tồn tại ở nhiều nước, song chỉ được coi là thành phần chủ đạo của một vài nước kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau mà cổ phần hoá là một trong những giải pháp cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hoá được coi là giải pháp triệt để bởi nó giải quyết căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước, đó là vấn đề sở hữu. Cổ phần hoá chấp nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vĩ mô. Cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nƣớc.
Có nhiều khái niệm về cổ phần hoá DNNN. Dưới đây là một số khái niệm cơ bản: Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước từ một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước (tức toàn dân) thành Doanh nghiệp đa sở hữu, theo đó tuỳ vị trí và tính chất cụ thể của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối hoặc không cần giữ vai trò chi phối nữa. [24] Cổ phần hoá DNNN là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần. Trên thế giới hiện nay đang có hai loại hình cổ phần hoá: Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá và Doanh nghiệp tư nhân cổ phần hoá.
Cổ phần hoá là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống Doanh nghiệp Nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đầu thập niên 80 của z 11 thế kỷ XX. Ở Việt Nam, cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và từng bước tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai.