Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Việt Nam có hơn 2,31 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,79% tổng số hộ dân cư trên toàn quốc, cùng hơn 1,24 triệu hộ cận nghèo, tương đương tỷ lệ 5,27% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020. Tổng cộng có khoảng 24 triệu người, tương đương 28% dân số cả nước, thuộc nhóm đối tượng cần trợ giúp xã hội bao gồm người khuyết tật, người nhiễm HIV, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và người cao tuổi neo đơn. Thực tế này tạo ra áp lực ngân sách khổng lồ cho Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công và bảo đảm an sinh xã hội. Trong bối cảnh nguồn lực công có hạn, doanh nghiệp xã hội nổi lên như một phương thức kinh doanh đột phá, dung hòa giữa mục tiêu tạo ra lợi nhuận và sứ mệnh giải quyết các vấn đề cộng đồng.

Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên chính thức định chế hóa khái niệm doanh nghiệp xã hội tại Điều 10, song đến hết tháng 12 năm 2015, thị trường vẫn chưa ghi nhận doanh nghiệp nào hoàn tất việc đăng ký mới hoặc chuyển đổi sang mô hình này do khoảng trống pháp lý từ việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 96/2015/NĐ-CP. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện các rào cản pháp lý, đánh giá mức độ tương thích giữa quy chuẩn quốc tế và pháp luật thực định Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của loại hình doanh nghiệp này.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc làm rõ bản chất pháp lý của doanh nghiệp xã hội, phân tích các rào cản trong quy trình thành lập, huy động vốn, phân phối lợi nhuận, thực thi cơ chế khóa tài sản và chuyển đổi mô hình tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu hướng tới việc tạo dựng hành lang pháp lý minh bạch, góp phần thúc đẩy ít nhất 51% lợi nhuận giữ lại được tái đầu tư trực tiếp vào các mục tiêu an sinh, nâng cao năng lực tiếp cận vốn và tạo việc làm cho cộng đồng 28% dân số yếu thế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa ba nền tảng lý thuyết kinh tế và pháp lý hiện đại:

Thứ nhất, Lý thuyết Thất bại thị trường và Thất bại nhà nước (Market and Government Failure Theory) do Burton Weisbrod và Henry Hansmann phát triển. Lý thuyết này chỉ ra rằng khu vực tư nhân thông thường có xu hướng bỏ qua việc cung ứng hàng hóa công cộng do không tối đa hóa được lợi nhuận, trong khi khu vực công thường phản ứng chậm và thiếu nguồn lực phân bổ đến từng nhóm thiểu số yếu thế. Doanh nghiệp xã hội xuất hiện như một cơ chế lai ghép (hybrid organization) nhằm khắc phục đồng thời cả hai khiếm khuyết trên.

Thứ hai, Lý thuyết Khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneurship Theory) bắt nguồn từ tư tưởng của Jean-Baptiste Say và được hoàn thiện bởi Charles Leadbeater cùng Gregory Dees. Lý thuyết khẳng định doanh nhân xã hội là những tác nhân thay đổi, sử dụng các công cụ thị trường và phương thức quản trị doanh nghiệp hiện đại để tối ưu hóa giá trị xã hội thay vì chỉ tập trung tối đa hóa lợi ích cho cổ đông.

Thứ ba, Khung lý thuyết Giá trị đa tầng (Triple Bottom Line) của John Elkington, định hướng doanh nghiệp cân bằng giữa ba trụ cột: Hiệu quả kinh tế (Profit), Trách nhiệm xã hội (People) và Bền vững môi trường (Planet).

Nghiên cứu chuẩn hóa 5 khái niệm cốt lõi:

  • Doanh nghiệp xã hội: Tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, cam kết giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và giữ lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư.
  • Khóa tài sản (Asset Lock): Cơ chế pháp lý ràng buộc toàn bộ tài sản và nguồn vốn tài trợ chỉ được sử dụng cho mục tiêu cộng đồng đã cam kết, không được phân chia cho các thành viên khi thoái vốn hoặc giải thể.
  • Tỷ lệ tái đầu tư 51%: Ngưỡng định lượng pháp lý bắt buộc theo Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 để xác định tư cách doanh nghiệp xã hội.
  • Công ty vì Lợi ích Cộng đồng (Community Interest Company - CIC): Mô hình pháp lý đặc thù của Vương quốc Anh điều chỉnh các tổ chức kinh doanh phục vụ cộng đồng.
  • Vốn đầu tư tạo tác động xã hội (Impact Investing): Nguồn tài chính kết hợp giữa lợi nhuận tài chính kỳ vọng và kết quả chuyển biến xã hội đo lường được.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu pháp lý và thực nghiệm đa tầng bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 96/2015/NĐ-CP, Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Phá sản); Đạo luật Công ty Vương quốc Anh năm 2006, Quy chế Công ty Lợi ích Cộng đồng năm 2005 (CIC Regulations 2005); Nghị định Hoàng gia Thái Lan số 621 năm 2016 về ưu đãi thuế; cùng các báo cáo khảo sát thực nghiệm quy mô quốc gia của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) năm 2015 và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) năm 2012.

Phương pháp nghiên cứu định tính được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo, kết hợp phương pháp luật học so sánh (Comparative Legal Analysis), phân tích quy phạm pháp luật (Doctrinal Legal Research) và phương pháp đánh giá chính sách công. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm kế thừa bao gồm dữ liệu khảo sát từ hơn 100 doanh nghiệp xã hội hoạt động thực tế trên toàn lãnh thổ Việt Nam và 3 hệ thống pháp luật đại diện (Việt Nam, Vương quốc Anh và Thái Lan).

Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng dựa trên tiêu chí tính tương thích về mặt thể chế: Vương quốc Anh được chọn là quốc gia tiên phong với khung pháp lý CIC hoàn chỉnh từ năm 2004, trong khi Thái Lan được chọn làm mẫu so sánh tương đồng trong khu vực Đông Nam Á với các chính sách thuế vượt trội ban hành năm 2016. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp phân tích chính sách kinh tế luật là nhằm bóc tách các khoảng trống pháp lý thực định khi Việt Nam luật hóa mô hình kinh doanh xã hội trong một nền kinh tế chuyển đổi, bảo đảm các kiến nghị đưa ra có tính khả thi cao và phù hợp với thực tiễn xét xử, quản lý nhà nước giai đoạn 2014 - 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu vốn của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng và thiếu hụt nguồn tài chính trung gian. Khảo sát thực nghiệm năm 2015 của CSIP đối với cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp xã hội chỉ ra rằng: Nguồn vốn tích lũy từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất với 45,4%; vốn tự có của các sáng lập viên chiếm 20,3%; vốn vay thương mại chiếm 28,8%; trong khi nguồn vốn tài trợ và viện trợ phi chính phủ chỉ chiếm khiêm tốn 5,3%. Điều này chứng minh phần lớn doanh nghiệp xã hội Việt Nam phải tự lực cánh sinh dựa trên dòng tiền thương mại thay vì nhận được sự trợ lực tài chính dồi dào từ các nguồn quỹ xã hội.

Thứ hai, sự khác biệt căn bản về cơ chế kiểm soát lợi nhuận và chính sách phân phối cổ tức giữa các quốc gia. Pháp luật Việt Nam quy định mức tái đầu tư tối thiểu là 51% tổng lợi nhuận hàng năm và không trực tiếp áp đặt mức trần chi trả cổ tức cho phần còn lại. Ngược lại, Vương quốc Anh thiết lập cơ chế gián tiếp thông qua việc giới hạn tổng mức thanh toán cổ tức cho các nhà đầu tư tư nhân không vượt quá 35% lợi nhuận sau thuế, tương đương với tỷ lệ lợi nhuận bắt buộc giữ lại tái đầu tư là 65%. Thái Lan áp dụng quy chuẩn khắt khe hơn theo Nghị định Hoàng gia số 621, yêu cầu tỷ lệ tái đầu tư tối thiểu là 70% và giới hạn trần chi trả cổ tức cho cổ đông không quá 30% lợi nhuận ròng.

Thứ ba, sự thiếu vắng của các chính sách ưu đãi tài khóa trực tiếp tại Việt Nam so với các nước trong khu vực. Trong khi Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP chỉ đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc chung về việc được nhận viện trợ và ưu đãi đầu tư, Thái Lan đã luật hóa mức miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 100% đối với nguồn vốn doanh nghiệp rót vào doanh nghiệp xã hội, đồng thời cho phép các pháp nhân tài trợ vốn được khấu trừ tối đa 2% lợi nhuận thuần vào chi phí tính thuế.

Thứ tư, nguy cơ đổ vỡ tài chính từ sự cứng nhắc của cơ chế khóa tài sản (Asset Lock). Số liệu thực tế từ Văn phòng Điều tiết Doanh nghiệp Lợi ích Cộng đồng Vương quốc Anh cho thấy, chỉ riêng trong năm 2013 đã có gần 1.000 công ty lợi ích cộng đồng bị giải thể sau chưa đầy 3 năm hoạt động do không thu hút được vốn đầu tư mạo hiểm khi mức cổ tức bị khống chế quá gắt gao. Tại Việt Nam, quy định tại Điều 8 Nghị định 96/2015/NĐ-CP buộc doanh nghiệp khi chấm dứt cam kết xã hội phải hoàn trả toàn bộ số dư viện trợ hoặc chuyển giao cho các tổ chức có cùng mục tiêu trong thời hạn 05 ngày làm việc, song lại thiếu cơ chế định giá và giám sát tài sản độc lập, gây rủi ro pháp lý lớn cho người quản trị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến loại hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng xuất phát từ sự bất cập trong thiết kế chính sách. Mặc dù Nhà nước đã mở rộng quyền tự do kinh doanh bằng việc cho phép thành lập doanh nghiệp xã hội dưới mọi hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, song môi trường pháp lý thực thi lại thiếu vắng các định chế hỗ trợ chuyên biệt.

Dữ liệu cơ cấu tài chính có thể được trình bày rõ ràng qua một biểu đồ tròn mô tả sự phân bổ nguồn vốn: Trong đó khối vốn tự tạo (45,4% tích lũy và 20,3% vốn tự có, tổng cộng chiếm 65,7%) giữ vai trò áp đảo hoàn toàn so với khối vốn từ bên thứ ba (5,3% viện trợ). Khi so sánh dữ liệu này với bảng phân tích đa biến giữa các quốc gia, có thể thấy rõ: Mô hình của Vương quốc Anh thu hút vốn tốt nhờ tính linh hoạt của thị trường chứng khoán xã hội (Social Stock Exchange), trong khi Thái Lan tạo động lực tài chính mạnh mẽ thông qua cơ quan điều phối quốc gia là Văn phòng Doanh nghiệp Xã hội Thái Lan (TSEO) thành lập từ năm 2010.

Việc thiếu vắng các hướng dẫn cụ thể về thuế và tín dụng ưu đãi đã triệt tiêu động lực chuyển đổi của các tổ chức phi chính phủ và cơ sở bảo trợ xã hội. Rủi ro pháp lý liên đới trách nhiệm cá nhân đối với thành viên góp vốn và Hội đồng quản trị khi không duy trì đủ tỷ lệ 51% tái đầu tư theo Điều 9 Nghị định 96/2015/NĐ-CP cũng là một rào cản tâm lý lớn, ngăn các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào khu vực kinh tế này.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và khuyến khích vốn đầu tư tư nhân:

  • Hành động: Ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cơ chế miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư xã hội vượt mức 51%. Cho phép các doanh nghiệp thông thường khấu trừ tối đa 2% đến 3% thu nhập chịu thuế khi tài trợ vốn hoặc chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp xã hội.
  • Chỉ tiêu: Nâng tỷ trọng vốn tài trợ và đầu tư tác động từ mức 5,3% lên ít nhất 15% tổng nguồn vốn hoạt động của khu vực doanh nghiệp xã hội.
  • Thời gian thực hiện: Hoàn thành trong vòng 12 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính chủ trì, Tổng cục Thuế phối hợp.

Thứ hai, thiết lập quy chế kiểm soát tài chính và chuẩn hóa cơ chế khóa tài sản (Asset Lock):

  • Hành động: Xây dựng khung quy định riêng biệt về kế toán và kiểm toán cho doanh nghiệp xã hội. Ban hành mẫu hướng dẫn xử lý tài sản thặng dư, quy định rõ quy trình định giá và cơ quan tiếp nhận phần vốn viện trợ khi doanh nghiệp giải thể hoặc chuyển đổi sang mô hình kinh doanh thông thường.
  • Chỉ tiêu: 100% doanh nghiệp xã hội thực hiện báo cáo tác động xã hội và công khai kiểm toán nguồn vốn viện trợ định kỳ hàng năm.
  • Thời gian thực hiện: Lộ trình 18 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Kiểm toán Nhà nước.

Thứ ba, thành lập Quỹ Phát triển Doanh nghiệp Xã hội Quốc gia và cơ chế tín dụng ưu đãi:

  • Hành động: Thành lập Quỹ hỗ trợ vốn theo mô hình đối tác công tư (PPP) học tập kinh nghiệm từ Quỹ TSEO Thái Lan, liên kết với các ngân hàng thương mại để triển khai các gói tín dụng vi mô với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 3% đến 5% so với lãi suất cho vay thương mại thông thường.
  • Chỉ tiêu: Tiếp cận và giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi cho ít nhất 500 doanh nghiệp xã hội và hợp tác xã kiểu mới tại các vùng khó khăn.
  • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 24 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp.

Thứ tư, đơn giản hóa và liên thông thủ tục hành chính chuyển đổi mô hình:

  • Hành động: Rút ngắn thời gian thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT từ 30 ngày làm việc xuống dưới 05 ngày làm việc trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
  • Chỉ tiêu: Thúc đẩy 100% cơ sở bảo trợ xã hội và quỹ từ thiện đủ điều kiện thực hiện chuyển đổi mô hình mà không phải giải thể tổ chức cũ.
  • Thời gian thực hiện: Triển khai ngay trong 06 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc giúp các chuyên viên tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp trong việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế và hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành, cụ thể hóa các gói miễn giảm thuế 100% cho đầu tư tác động.

Thứ hai, các nhà sáng lập và ban điều hành doanh nghiệp xã hội: Tài liệu là cẩm nang pháp lý toàn diện giúp các giám đốc điều hành nắm vững quy trình đăng ký, chuyển đổi mô hình, xây dựng điều lệ công ty chuẩn hóa tỷ lệ 51% tái đầu tư và thiết lập quy chế khóa tài sản an toàn, phòng ngừa rủi ro pháp lý liên đới khi gọi vốn và giải thể.

Thứ ba, các quỹ đầu tư tác động xã hội và các tổ chức phi chính phủ: Nghiên cứu giúp các tổ chức như CSIP, Hội đồng Anh, các quỹ tài chính quốc tế hiểu rõ cấu trúc pháp lý về quyền sở hữu vốn tại Việt Nam, qua đó tối ưu hóa chiến lược rót vốn thông qua việc cân đối danh mục giữa 20,3% vốn tự có và 28,8% vốn vay, bảo đảm an toàn nguồn tài trợ.

Thứ tư, giới nghiên cứu học thuật, giảng viên và sinh viên ngành Luật Kinh tế: Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống về luật học so sánh chuyên sâu giữa pháp luật Việt Nam, Anh và Thái Lan trong giai đoạn 2014 - 2017, đóng vai trò nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị công ty phi lợi nhuận và kinh tế luật.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam cần đáp ứng những tiêu chí pháp lý cốt lõi nào? Căn cứ Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ 3 tiêu chí: Được đăng ký thành lập hợp pháp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký.

Doanh nghiệp xã hội có được phép tiếp nhận nguồn tài trợ phi chính phủ từ nước ngoài không? Có. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp xã hội được quyền tiếp nhận các khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài và tài trợ hợp pháp từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để phục vụ mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, số liệu thực tế năm 2015 cho thấy nguồn tài trợ chỉ chiếm 5,3% trong tổng cơ cấu vốn của khối này.

Mô hình Công ty vì Lợi ích Cộng đồng (CIC) của Vương quốc Anh điều tiết việc chia cổ tức như thế nào? Theo Quy chế CIC 2005 của Anh, nhằm bảo vệ tài sản vì lợi ích chung, tổng mức chi trả cổ tức cho các nhà đầu tư tư nhân bị giới hạn ở mức trần tối đa 35% lợi nhuận sau thuế, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải giữ lại 65% lợi nhuận để phục vụ sứ mệnh cộng đồng. Lệ phí nộp khi đăng ký thành lập CIC tại Anh là 35 bảng.

Thái Lan áp dụng chính sách ưu đãi thuế vượt trội nào cho khu vực doanh nghiệp xã hội? Theo Nghị định Hoàng gia số 621 năm 2016 của Thái Lan, các nhà đầu tư rót vốn vào doanh nghiệp xã hội được miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số vốn này, với điều kiện doanh nghiệp xã hội tái đầu tư ít nhất 70% lợi nhuận và duy trì mức cổ tức không quá 30% trong suốt 10 kỳ kế toán liên tiếp.

Khi giải thể, số dư tài sản từ nguồn viện trợ của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam được giải quyết ra sao? Căn cứ Điều 8 Nghị định 96/2015/NĐ-CP, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại từ các nguồn viện trợ, tài trợ chưa sử dụng hết không được chia cho các thành viên góp vốn mà phải hoàn trả lại cho bên tài trợ hoặc chuyển giao cho các doanh nghiệp xã hội khác có cùng mục tiêu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và bản chất pháp lý của mô hình doanh nghiệp xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Phân tích sâu sắc sự tương phản trong cấu trúc tài chính thực tế năm 2015 với 45,4% vốn tích lũy tự có và chỉ 5,3% vốn tài trợ, chỉ ra rào cản cốt lõi là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014.
  • Đánh giá kinh nghiệm lập pháp so sánh giá trị từ Vương quốc Anh với trần cổ tức 35% và Thái Lan với chính sách miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp cho dòng vốn đầu tư tác động.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về ưu đãi thuế tài khóa, quy chế kiểm soát tài chính, quỹ phát triển xã hội quốc gia và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
  • Khẳng định việc chuẩn hóa hành lang pháp lý là tiền đề then chốt để thúc đẩy tối thiểu 51% lợi nhuận tái đầu tư, tạo sinh kế bền vững cho 28% dân số thuộc nhóm yếu thế trong xã hội.

Lộ trình cải cách pháp luật cần được các cơ quan chức năng tập trung triển khai đồng bộ trong giai đoạn 3 đến 5 năm tới. Các nhà lập pháp, cộng đồng doanh nhân và nhà đầu tư cần nhanh chóng chung tay hoàn thiện thể chế kinh tế - xã hội, hiện thực hóa các chính sách ưu đãi tài khóa để vườn ươm doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam thực sự vươn mình, đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển thịnh vượng của quốc gia.