CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội 1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp xã hội Trong từ điển “Business dictionnary” định nghĩa rằng : Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh phi lợi nhuận, sử dụng con người và lợi nhuận thu được để giúp đỡ các vấn đề xã hội hay môi trường. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xã hội có thể cung cấp các dịch vụ có giá trị cho nhu cầu của một số cộng đồng dân cư, họ có thể thực hiện tình nguyện các công việc tư vấn hoặc thậm chí trả tiền cho các dự án làm sạch môi trường.2 Có nhiều khái niệm về doanh nghiệp xã hội nhưng không có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội. Tùy điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội khác nhau và góc nhìn khác nhau mà các quốc gia có cách định nghĩa khách nhau. Nhưng tựu chung lại, doanh nghiệp xã hội là những doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tối cao là giải quyết các vấn đề xã hội hay bảo vệ môi trường thông qua hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xã hội có thể có các hình thức pháp lý khác nhau tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia như : tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức từ thiện, hay các doanh nghiệp. Doanh nghiệp xã hội là loại hình doanh nghiệp đã phát triển lâu đời trên thế giới, đặc biệt tại Vương Quốc Anh. Tuy nhiên, khái niệm “doanh nghiệp xã hội” lại khá mới mẻ ở Việt Nam, và mới chỉ được quan tâm, nhắc đến trong vòng vài năm trở lại đây. Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên quy định về loại hình doanh nghiệp xã hội trong Luật doanh nghiệp 2014.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp xã hội bao gồm: - Được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014; - Có mục tiêu hoạt động là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và vì lợi ích cộng đồng; 2 “Social enterprise”, Businessdictionary.com 2 - Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.3 Trong Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa4: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Cách định nghĩa này bám sát vào những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội. Theo đó, việc kinh doanh (business) được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp cam kết theo đuổi thông qua hoạt động kinh doanh, chứ không phải việc ràng buộc doanh nghiệp xã hội vào một hình thức công ty cứng nhắc. Mục tiêu xã hội là sứ mệnh cơ bản và tiên quyết của việc thành lập doanh nghiệp.
Thêm vào đó, nguyên tắc chung của các doanh nghiệp này là lợi nhuận được tái đầu tư lại cho tổ chức hoặc cộng đồng. Theo cách định nghĩa của Chính phủ Anh, doanh nghiệp xã hội có thể là một tổ chức được thành lập dưới hình thức công ty hoặc một nhóm doanh nghiệp không phải là công ty. Theo đó, một doanh nghiệp xã hội có thể thành lập dưới hình thức “Unincoporated form” do một thương nhân, hoặc một nhóm thương nhân đơn lẻ hợp thành. Trường hợp này doanh nghiệp xã hội không được coi là công ty, không có sự tồn tại độc lập về mặt pháp lý với thương nhân hoặc các thương nhân thành lập nó; và không phải đăng ký kinh doanh.
Mặc dù hoạt động kinh doanh hướng tới mục tiêu xã hội nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội do các thương nhân đơn lẻ làm chủ sẽ bị đánh thuế thu nhập cá nhân, có xem xét giảm trừ, doanh nghiệp xã hội tại Anh cũng có thể thành lập doanh nghiệp xã hội theo hình thức công ty theo Luật Công Ty của Anh hoặc thành lập dưới hình thức Hợp Tác Xã và Hiệp Hội vì lợi ích cộng đồng hoặc các tổ chức từ thiện. Tổ chức OECD định nghĩa5: 3 Điều 10, Luật Doanh Nghiệp 2014 4 Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, khái niệm, bối cảnh và chính sách,trang 4 5 Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, khái niệm, bối cảnh và chính sách, trang 5 Thông tin về OECD : Phụ Lục 03- Hộp sô 1 3 “Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuỗi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngòai ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.” Tại Mỹ Khái niệm về doanh nghiệp xã hội nói chung rộng hơn nhiều nơi khác.
Trong giới học thuật Mỹ, doanh nghiệp xã hội được hiểu là bao gồm những tổ chức, các doanh nghiệp theo định hướng vì lợi nhuận và tham gia vào các hoạt động công ích xã hội (tổ chức từ thiện của công ty hoặc trách nhiệm xã hội doanh nghiệp). Các doanh nghiệp hai mục tiêu đó (mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội) làm trung gian với nhiệm vụ hỗ trợ (mục đích xã hội) cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động thương mại. Đối với tổ chức chỉ bao gồm mục đích xã hội, nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động thương mại có thể chỉ bao gồm hỗ trợ việc tạo ra doanh thu từ các chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động đồng thời tạo ra doanh thu và cung cấp chương trình đáp ứng các mục tiêu nhiệm vụ xã hội.6 Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chủ yếu xem xét doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức một công ty theo góc nhín của Luật Doanh nghiệp 2014.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội Doanh nghiệp xã hội có các đặc điểm đặc thù và khác biệt cơ bản so với các đặc điểm của các doanh nghiệp thông thường, tổ chức phi lợi nhuận khác. Doanh nghiệp xã hội trước tiên phải là một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp thông thường.
Phần lớn thu nhập của doanh nghiệp xã hội là thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Đây là đặc điểm khác biệt của doanh nghiệp xã hội với các tổ chức từ thiện xã hội khác. Doanh nghiệp xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của chính mình để giải quyết các vấn đề xã hội và dành phần lớn lợi nhuận thu được để tái phân bổ cho các hoạt động, mục tiêu xã hội đã cam kết. Cũng 6 Janelle A.
Kerlin, 2006, “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences”,2. 4 chính đặc điểm này, doanh nghiệp xã hội ở một góc độ khác được nhìn nhận như là một doanh nghiệp thông thường, đăng ký hoạt động như các loại hình doanh nghiệp khác và tuân thủ các quy định về quản lý doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Doanh nghiệp xã hội cũng chịu sự chi phối của thị trường đối với các “sản phẩm” đầu ra của mình và chịu sự cạnh tranh như những doanh nghiệp thông thường khác, hoạt động kinh doanh có lỗ hoặc lợi nhuận như doanh nghiệp thông thường khác. Điều này hoàn toàn khác với các tổ chức từ thiện thông qua các nguồn tài trợ, các quỹ, hoặc kêu gọi lòng hảo tâm của nhiều cá nhân tổ chức khác để thực hiện công việc xã hội của mình.
Thông thường các doanh nghiệp xã hội phải tạo ra phần lớn hơn 50% doanh thu của họ để bù đắp chi phí hoạt động bên cạnh các nguồn thu khác ( nhận tài trợ). Tuy nhiên, đối với một số doanh nghiệp xã hội mới thành lập, tỷ lệ này có thể thấp hơn và DN phải sử dụng nguồn vốn sẵn có để bù đắp cho các hoạt động của mình. Doanh nghiệp xã hội phải có mục tiêu, sứ mệnh xã hội rõ ràng, được đặt lên hàng đầu, là tôn chỉ, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó. Mục tiêu xã hội này phải được thể hiện rõ ràng, công khai, minh bạch trong tài liệu quản lý của doanh nghiệp ngay từ khi đăng ký thành lập.
Đặc điểm này làm cho doanh nghiệp xã hội khác biệt với những loại hình doanh nghiệp thông thường khác. Điều đó có nghĩa là, nếu như một doanh nghiệp thông thường, xuất phát từ nhu cầu của xã hội để tạo ra sản phẩm kinh doanh và thu về lợi nhuận, trái lại, doanh nghiệp xã hội xuất phát từ nhu cầu và các vấn đề xã hội để tạo lập mô hình kinh doanh và giải quyết chính nhu cầu xã hội đó. Doanh nghiệp xã hội phải nhận thức một cách rõ ràng về sứ mệnh xã hội của họ và luôn luôn cố gắng để tìm cách thực hiện, giải quyết và tạo ra các giài pháp bền vững, lâu dài cho các vấn đề xã hội. Một đặc điểm khác biệt nữa giữa doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp thông thường nữa đó là, doanh nghiệp xã hội tái đầu tư phần lớn lợi nhuận thu được cho hoạt động vì cộng đồng của mình.
Tỷ lệ tái đầu tư tối thiểu bắt buộc tùy thuộc vào pháp luật của địa phương nơi doanh nghiệp xã hội đăng ký thành lập và hoạt động. Theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014 của Việt Nam thì tỷ lệ này là 51%. Việc tái đầu tư lợi nhuận không đồng nghĩa với việc tạo ra giá trị xã hội và doanh nghiệp còn có nhiều 5 cách khác để gia tăng nguồn vốn hoạt động. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, quy định về tỷ lệ tái đầu tư trở lại lợi nhuận cho hoạt động của tổ chức hoặc cộng đồng là đặc điểm nhằm phân định mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là vì lợi nhuận ( tối đa hóa giá trị cho các chủ sở hữu , cổ đông) hay vì cộng đồng.
Doanh nghiệp xã hội được sở hữu và kiểm soát mang tính xã hội. Cấu trúc sở hữu (vốn góp) và quản lý của doanh nghiệp xã hội có sự tham gia của các tổ chức cộng đồng, các tổ chức và cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.