Tổng quan luận án

Đề tài "Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Luận án tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, kết hợp phân tích các quy định pháp luật thực định với tổng kết thực tiễn xét xử trong giai đoạn 12 năm (2006 – 2017) trên phạm vi cả nước.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quyền con người là mục tiêu phấn đấu của xã hội văn minh và được ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR năm 1948) cũng như Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 20). Trong các quyền cơ bản đó, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do tình dục giữ vị trí quan trọng. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm xâm phạm tình dục tại Việt Nam diễn biến phức tạp, lan rộng từ các đô thị phát triển đến các vùng nông thôn, miền núi, với phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Thực trạng này thể hiện qua các số liệu thống kê được ghi nhận từ nhiều cơ quan, tổ chức:

Tiêu chí thống kê Nguồn dữ liệu Số liệu ghi nhận
Số lượng xét xử sơ thẩm trung bình hàng năm (2006 – 2017) Tòa án nhân dân tối cao 1.624 vụ, tương ứng 1.845 bị cáo trên phạm vi toàn quốc
Độ tuổi trung bình của trẻ em bị xâm hại tình dục Hiệp hội Quốc gia Phòng chống Bạo hành trẻ em (NSPCC) 9 tuổi (tỷ lệ: 1/4 bé gái và 1/6 bé trai từng bị xâm hại tình dục)
Tỷ lệ người từng bị xâm hại tình dục trên quy mô toàn cầu Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) 1/5 nữ giới và 1/7 nam giới; 9% đến 25% trẻ em châu Á bị xâm hại thể chất; 30% trẻ em chịu cưỡng bức tình dục
Tần suất xuất hiện nạn nhân trẻ em bị xâm phạm tình dục tại Việt Nam Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Trung bình 8 giờ có thêm 1 trẻ em bị xâm hại (tương đương 3 trẻ em mỗi ngày)
Mối quan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân tại Việt Nam Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 93% thủ phạm quen biết nạn nhân, trong đó 47% là người thân, họ hàng trong gia đình

Bên cạnh thực trạng xã hội, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 bộc lộ 5 hạn chế lớn:

  • Tên gọi một số tội danh (như tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm trẻ em, tội giao cấu với trẻ em, tội dâm ô đối với trẻ em) không còn phù hợp với Luật Trẻ em năm 2016; mô tả hành vi khách quan còn lạc hậu; vấn đề chủ thể tội phạm còn nhiều ý kiến chưa thống nhất; phân hóa trách nhiệm hình sự chưa chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ oan, sai.
  • Quy định trách nhiệm hình sự và hình phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; khung hình phạt của một số tội (như tội hiếp dâm, tội dâm ô với trẻ em) còn nhẹ, dẫn đến hiện tượng tái phạm.
  • BLHS năm 1999 chỉ quy định 6 tội danh xâm phạm tình dục; nhiều hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong thực tế chưa được hình sự hóa (như hành vi dâm ô đối với người lớn, quấy rối tình dục), tạo lỗ hổng pháp luật và bỏ lọt tội phạm.
  • Thực tiễn xét xử cho thấy còn nhiều trường hợp định tội danh chưa chính xác, áp dụng trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt chưa tương xứng.
  • BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) dù đã khắc phục một số điểm nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các tồn tại trên.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình luận án tiến sĩ nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về cơ sở lý luận lẫn thực tiễn xét xử 12 năm (2006 – 2017) trên phạm vi cả nước về nhóm tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam, nhằm đưa ra các đề xuất hoàn thiện hệ thống chính sách hình sự một cách nhất quán.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ, sâu sắc và có hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về các tội xâm phạm tình dục, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội này trong quá trình giải quyết vụ án.

Luận án xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án ở trong và ngoài nước, nhận xét và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Xây dựng khái niệm khoa học về các tội xâm phạm tình dục và làm rõ đặc điểm, cơ sở, căn cứ quy định các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam.
  3. Hệ thống hóa và khái quát lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục từ thời phong kiến đến nay, trên cơ sở đó đưa ra nhận xét, so sánh và đánh giá.
  4. Nghiên cứu, phân tích, so sánh quy định về các tội xâm phạm tình dục trong bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.
  5. Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm tình dục, làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, so sánh và chỉ ra những bất cập về mặt lập pháp hình sự.
  6. Phân tích thực tiễn xét xử về các tội xâm phạm tình dục ở nước ta trong 12 năm (2006 – 2017), chỉ ra những tồn tại, hạn chế về pháp luật và thực tiễn áp dụng, xác định nguyên nhân cần khắc phục.
  7. Đề xuất, kiến nghị việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục; những vấn đề lý luận liên quan; thực tiễn xét xử giai đoạn 2006 – 2017; kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Giới hạn trong các tội phạm xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm tình dục được quy định tại Chương XII BLHS năm 1999, gồm 6 tội danh: tội hiếp dâm (Điều 111), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), tội cưỡng dâm (Điều 113), tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), tội giao cấu với trẻ em (Điều 115), và tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116). Các vấn đề xã hội học, tội phạm học chỉ được sử dụng nhằm phục vụ giải quyết các nội dung thuộc luật hình sự.
    • Về không gian: Toàn bộ phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn xét xử trong 12 năm, từ năm 2006 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chuyên ngành: luật hình sự, tội phạm học và xã hội học.

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Dưới góc độ luật hình sự:
    • Hệ thống giáo trình chuẩn mực: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội [135]; Giáo trình của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội [17]; Giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh [136]; các giáo trình do PGS. Lê Văn Cảm [20], GS. Võ Khánh Vinh [145], TS. Cao Thị Oanh [95] chủ biên. Các giáo trình này cung cấp khung lý thuyết nền tảng về khái niệm, dấu hiệu pháp lý và bốn yếu tố cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự.
    • Sách chuyên khảo, bình luận: Các công trình của Bộ Tư pháp [11]; Nguyễn Ngọc Điệp và Đoàn Tấn Minh [38]; Đinh Văn Quế [98, 99]; Uông Chu Lưu [75]; Nguyễn Ngọc Hòa [49]; Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản [13]; Trần Văn Luyện [76]; Trịnh Tiến Việt [146]; Bùi Anh Tuấn và Hồ Thị Nệ [137]. Các tác giả đã phân tích dấu hiệu định tội, cấu thành tội phạm và nêu các quan điểm cá nhân về những điểm còn tranh luận như dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm.
    • Đề tài nghiên cứu khoa học: Các nghiên cứu tập trung vào đối tượng trẻ em của Lương Khải Ân [1], Lê Quốc Hoàng [53], Đoàn Thị Thu Nga và Trần Thị Mỹ Dung [89].
    • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Nhóm bài nghiên cứu tổng thể nhóm tội của Dương Tuyết Miên (1998) [81], Phạm Mạnh Hùng (2002) [57], Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Đỗ Đức Hồng Hà (2010) [40]. Nhóm bài bình luận thực tiễn về vụ án cụ thể của Nguyễn Văn S trên Tạp chí Tòa án nhân dân giai đoạn 2004 – 2005 của Lưu Thị Thu Hiền [54], Phạm Thanh Hải [45], Nguyễn Đức Lực [77], Nguyễn Chí Công [29], Đỗ Thanh Huyền [58], Nguyễn Thành Lâm [69], Nguyễn Văn [142] và Ban biên tập [4]. Nhóm bài viết lý luận về các tội danh cụ thể của Nguyễn Hiển Khanh [66], Đỗ Việt Cường [30], Đặng Xuân Nam [86], Bùi Thị Quyên [109], Dương Tuyết Miên và Bùi Thị Quyên [83], Trần Quang Thái [119], Nguyễn Khắc Hải [44], Phạm Văn Nhớ [91], Ngô Văn Nhạc [90].
  • Dưới góc độ tội phạm học: Luận án tiến sĩ của Lê Hữu Du [31] về đấu tranh phòng chống tội hiếp dâm trẻ em giai đoạn 2007 – 2013; luận văn thạc sĩ của Lê Văn Tình [129] tại Đồng Nai, Lưu Hải Yến [148] tại Hà Nội; các ấn phẩm của Trần Mạnh Đạt (2008), Nguyễn Xuân Yêm (1999), Nguyễn Hải Hữu (2012), Trần Hằng và Tuấn Hương (2012), Cục Chăm sóc bảo vệ trẻ em (2014).
  • Dưới góc độ xã hội học: Đề tài và sách chuyên khảo của Nguyễn Thu Hương (2005, 2008, 2009) [60, 61]; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1997); Hà Anh (2006); Đào Xuân Dũng (2006); cùng các bài viết của Dương Tuyết Miên (2005), Hồ Đắc Duy (2007), Hồng Nhung, Quang Minh (2004), Thùy Thảo (2009), Lữ Huyền Phố (2012).

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

  • Dưới góc độ luật hình sự:
    • Joel Samaha (2005) [163] phân tích các tội xâm phạm tình dục trong chương về tội chống lại con người, chỉ rõ xu hướng pháp luật hiện đại mở rộng phạm vi tội phạm tình dục cho cả hai giới và thay đổi cách nhìn nhận về sự kháng cự của nạn nhân.
    • Louise A. Jackson (2000) [169] nghiên cứu lạm dụng tình dục trẻ em thời kỳ Victoria ở Anh; Stephen Smallbone, Bill Marshall, Richard Wortley phân tích chính sách phòng ngừa tại Anh.
    • Patricia A. Resick và Monica K. (1998) [157] cùng dẫn chứng từ nghiên cứu của Koss (1985) về tâm lý và thực trạng nạn nhân bị xâm hại nhiều lần bởi người quen.
    • Ariane Reinhart (1999) [149] nghiên cứu quấy rối tình dục ở Thụy Sĩ; Elaine Landau (1993) [155] nghiên cứu quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Mỹ.
    • Carla Van Dam nghiên cứu nhận dạng thủ phạm lạm dụng tình dục trẻ em; Karen M. Staller và Kathleen Coulborn Faller (2009) [165] nghiên cứu trách nhiệm chứng minh qua hệ thống tư pháp; Gangrade KD và Sooryamoorth R. [160] khảo sát thực trạng hiếp dâm trẻ em ở Ấn Độ; Elizabeth Gray (1998) [156] phân tích tính hợp hiến của án tử hình đối với tội hiếp dâm trẻ em theo Tu chính án thứ 8 Hiến pháp Hoa Kỳ.
    • Các bài viết trên Georgetown Journal of Gender and the Law, Canadian Journal of Law and Jurisprudence, Georgia State University Law Review.
  • Dưới góc độ tội phạm học: Diana E. Russell và Rebecca M. (2000) [153] về tình trạng lạm dụng tại Mỹ; Kurt M. Bumby (2012) [167] về sai lệch nhận thức của người phạm tội; Linda Richter, Andrew Dawes, Craig Higson-Smith (2005) [168] về lạm dụng tình dục trẻ em tại khu vực Nam Phi và Mozambique.
  • Dưới góc độ xã hội học: Melanie Reinke (2002) [171] nghiên cứu bối cảnh đa văn hóa tại Đức; Freda Briggs (1995) [159] nghiên cứu cơ chế chuyển hóa tâm lý từ nạn nhân thành người phạm tội; Martin A. Finkel và Angelo P. Giardino (2001) [170] về giám định y khoa; R. Kim Oates về can thiệp trị liệu; Khuất Thu Hồng, Lê Bách Dương, Nguyễn Ngọc Hường [166]; Bryan Strong, Christine De Vault, Barbara W. Yarber (2005) [151] về tình dục học dưới góc độ sinh học và xã hội.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu giải quyết các vấn đề lý luận đơn lẻ trong giáo trình, giới hạn ở một tội danh nhất định (như tội hiếp dâm) hoặc khoanh vùng đối tượng nạn nhân là trẻ em, tiếp cận theo hướng tội phạm học thuần túy hoặc xã hội học. Luận án định vị là công trình chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ, tổng hợp và giải quyết đồng bộ cả cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp, kinh nghiệm lập pháp quốc tế, gắn với việc phân tích toàn diện 12 năm thực tiễn xét xử sơ thẩm trên toàn quốc đối với toàn bộ 6 tội danh trong BLHS năm 1999, nhằm phục vụ việc hoàn thiện BLHS năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khung lý luận nền tảng: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp.
  • Khái niệm công cụ:
    • Khái niệm ngôn ngữ và sinh học: "Xâm phạm" là động chạm đến quyền lợi của người khác; "tình dục" là nhu cầu phát triển tự nhiên của con người có tính giao (bao gồm giao cấu và các hành vi tình dục khác).
    • Quyền con người và quyền tự do tình dục: Được xác lập trên cơ sở Điều 1 UDHR năm 1948 và Điều 20 Hiến pháp năm 2013 về quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm.
    • Định nghĩa do tác giả luận án đề xuất: "Các tội xâm phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt tương xứng".

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng tại Chương 1, 2, 3 và 4 nhằm làm rõ nội hàm các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam và quốc tế, đánh giá bản chất các yếu tố cấu thành tội phạm và thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp lịch sử: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm khảo cứu sự phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ thời phong kiến đến nay.
  • Phương pháp tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để khái quát hóa các quan điểm học thuật, chỉ ra các đặc điểm pháp lý có tính quy luật của thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát án điển hình: Vận dụng tại Chương 3 để xử lý các số liệu thực tế về các vụ án được xét xử sơ thẩm trong 12 năm (2006 – 2017), phân tích các bản án cụ thể nhằm phản ánh tính khách quan của thực trạng xét xử.
  • Phương pháp so sánh luật học: Thực hiện tại Chương 2 để đối chiếu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với quy định của một số quốc gia trên thế giới, tìm kiếm kinh nghiệm lập pháp phù hợp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013; BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Trẻ em năm 2016; các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (UDHR năm 1948, Công ước CEDAW năm 1979 - Điều 6, Công ước Quyền trẻ em năm 1989 - Điều 9, ICCPR, ICESCR năm 1966).
  • Nguồn dữ liệu thực tiễn: Các bản án, quyết định của Tòa án các cấp; báo cáo tổng kết và số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao (2006 – 2017); báo cáo nghiệp vụ của Cục Cảnh sát hình sự (C45) Bộ Công an; số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo ba nhánh tiếp cận chính (luật hình sự, tội phạm học, xã hội học) của cả tác giả trong nước và quốc tế. Tác giả rút ra ba nhận xét:

  • Các nghiên cứu lý luận trong nước đã đặt nền móng cơ bản về cấu thành tội phạm, song phần lớn nằm trong phạm vi giáo trình hoặc sách bình luận văn bản luật.
  • Các công trình chuyên sâu thường có phạm vi hẹp, chỉ tập trung vào một tội danh cụ thể (đặc biệt là tội hiếp dâm) hoặc thu hẹp đối tượng nạn nhân là trẻ em, chưa tạo ra cái nhìn tổng quát cho toàn bộ nhóm tội danh.
  • Tồn tại khoảng trống về một công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ luật học, kết hợp khung lý luận chặt chẽ với dữ liệu xét xử thực tế của 12 năm trên phạm vi cả nước.

Chương 2: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận cho nhóm tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự:

  • Xây dựng khái niệm khoa học về các tội xâm phạm tình dục và xác định 4 đặc điểm pháp lý cơ bản:
    1. Khách thể: Xâm phạm quyền bất khả xâm phạm và quyền tự do tình dục. Hành vi quan hệ tình dục đồng thuận với người dưới 13 tuổi vẫn được xác định là xâm phạm tình dục do sự phát triển chưa hoàn thiện về nhận thức và thể chất của nạn nhân.
    2. Mặt chủ quan: Luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
    3. Chủ thể: Đa dạng về giới tính (nam giới, nữ giới, người trong cộng đồng LGBT) và độ tuổi (độ tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự phù hợp là từ đủ 14 tuổi trở lên).
    4. Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Nghiêm khắc nhưng mang tính đặc thù. Đối với những trường hợp phạm tội bộc phát do bản năng, không kiềm chế được nhu cầu, hình phạt tù nghiêm khắc đơn thuần chưa phải là giải pháp tối ưu mà cần phối hợp các hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp (lao động công ích, quản chế, cấm tiếp xúc).
  • Xác lập ba cơ sở quy định: Phương diện kinh tế - xã hội, phương diện lý luận và phương diện thực tiễn.
  • Phân tích 5 yêu cầu lập pháp:
    1. Yêu cầu bảo vệ quyền con người (Điều 1 UDHR, Điều 20 Hiến pháp năm 2013).
    2. Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội (trước sự gia tăng hành vi xâm hại thể chất, tổn thương tinh thần và nguy cơ truyền bệnh).
    3. Yêu cầu bảo vệ đạo đức và văn hóa xã hội (ngăn chặn tình trạng suy đồi đạo đức, tội phạm xâm hại trẻ em rất nhỏ từ 2 đến 5 tuổi, các vụ việc có tính chất loạn luân).
    4. Năng lực điều tra, truy tố, xét xử và đặc thù chứng cứ (dấu vết sinh học dễ bị tiêu hủy khi nạn nhân vệ sinh thân thể, tâm lý e ngại dẫn đến tỷ lệ tội phạm ẩn cao, nguy cơ nạn nhân chịu tổn thương kép trong tố tụng).
    5. Yêu cầu hội nhập quốc tế (nội luật hóa Điều 6 Công ước CEDAW, Điều 9 Công ước Quyền trẻ em và ứng phó với tội phạm có yếu tố xuyên quốc gia).
  • Khái quát lịch sử lập pháp từ thời phong kiến đến thời kỳ hiện đại và so sánh với pháp luật hình sự một số quốc gia.

Chương 3: Các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm tình dục và thực tiễn xét xử

Chương 3 phân tích thực định các quy phạm tại Chương XII BLHS năm 1999 đối với 6 tội danh cụ thể:

Điều luật BLHS 1999 Tên tội danh Hành vi khách quan cốt lõi
Điều 111 Tội hiếp dâm Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác nhằm giao cấu trái ý muốn
Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ em Hành vi hiếp dâm mà nạn nhân là trẻ em (từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) hoặc mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi
Điều 113 Tội cưỡng dâm Dùng thủ đoạn khiến người bị lệ thuộc hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu
Điều 114 Tội cưỡng dâm trẻ em Hành vi cưỡng dâm mà nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em Người đã thành niên giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có sự đồng thuận
Điều 116 Tội dâm ô đối với trẻ em Hành vi của người đã thành niên thực hiện hành vi tình dục khác đối với trẻ em dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu

Chương này phân tích chi tiết bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) của từng tội danh, chỉ ra các vướng mắc về việc xác định hành vi giao cấu, các hành vi tình dục khác không phải giao cấu và vấn đề chủ thể của tội hiếp dâm.

Đồng thời, chương đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 2006 – 2017:

  • Phân tích số liệu xét xử sơ thẩm trung bình 1.624 vụ và 1.845 bị cáo mỗi năm từ Tòa án nhân dân tối cao.
  • Phân tích các sai sót nghiệp vụ thực tế: Định tội danh chưa chính xác; nhầm lẫn giữa tội hiếp dâm và tội giết người trong các vụ án tấn công thể xác gây tử vong; bất cập trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng; hình phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; vấn đề bỏ lọt hành vi quấy rối tình dục và hành vi dâm ô người lớn do chưa được hình sự hóa.

Chương 4: Yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương 4 tập trung vào các định hướng lập pháp và giải pháp thực thi:

  • Phân tích các điểm sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với nhóm tội danh này, chỉ rõ những điểm đã khắc phục và các vấn đề còn tiếp tục tồn tại chưa được giải quyết triệt để.
  • Đề xuất các yêu cầu sửa đổi, bổ sung văn bản luật: Mở rộng khái niệm và dấu hiệu khách quan của các tội phạm tình dục; điều chỉnh khung hình phạt bảo đảm tính phân hóa trách nhiệm hình sự; hoàn thiện quy định về chủ thể tội phạm phù hợp với bối cảnh xã hội mới.
  • Hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
    • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các dấu hiệu cấu thành tội phạm còn cách hiểu khác nhau.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ điều tra, truy tố, xét xử; nâng cao kỹ thuật thu thập, bảo quản dấu vết sinh học tại hiện trường.
    • Xây dựng cơ chế tố tụng đặc thù nhằm bảo vệ nạn nhân bị xâm hại tình dục, đặc biệt là nạn nhân trẻ em, tránh tình trạng tổn thương kép và giảm tỷ lệ tội phạm ẩn.
    • Tăng cường phối hợp liên ngành, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật và hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm có yếu tố xuyên quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng khái niệm khoa học chuẩn xác về các tội xâm phạm tình dục dựa trên việc phân tích mối quan hệ giữa từ nguyên, bản chất sinh học của tính giao và góc độ quyền con người.
  • Luận giải hệ thống 4 đặc điểm pháp lý của nhóm tội danh này (về khách thể, lỗi cố ý trực tiếp, tính đa dạng của chủ thể và tính đặc thù của chế tài hình sự).
  • Phân tích có hệ thống 5 yêu cầu lập pháp (bảo vệ quyền con người; trật tự an toàn xã hội; đạo đức - văn hóa; năng lực tố tụng và chứng cứ; hội nhập quốc tế) làm cơ sở cho việc quy định tội phạm trong pháp luật hình sự.
  • Hệ thống hóa tiến trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ hiện đại, làm rõ các giá trị có thể kế thừa và đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Khảo cứu toàn diện thực tiễn xét xử sơ thẩm của hệ thống Tòa án nhân dân trong 12 năm (2006 – 2017) với số liệu thống kê cụ thể, phản ánh chân thực diễn biến tội phạm và các vướng mắc trong định tội, áp dụng hình phạt.
  • Chỉ ra các khoảng trống lập pháp của BLHS năm 1999 và những điểm chưa triệt để của BLHS năm 2015 đối với các hành vi tình dục phi truyền thống.
  • Đưa ra hệ thống kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 và các giải pháp thực thi tố tụng: Hoàn thiện quy định về hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp; nâng cao kỹ thuật bảo quản chứng cứ sinh học; thiết lập quy trình tố tụng thân thiện để ngăn ngừa tổn thương kép cho nạn nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi đối tượng khảo sát thực định bị giới hạn trong 6 tội danh cụ thể được quy định tại Chương XII BLHS năm 1999 (xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm tình dục), không mở rộng ra toàn bộ các tội phạm khác có liên quan đến yếu tố tình dục.
  • Luận án định vị chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, do đó các phân tích về xã hội học hay nguyên nhân tội phạm học chỉ giữ vai trò bổ trợ mà không được triển khai thành các nội dung chuyên biệt.
  • Mốc thời gian thống kê dữ liệu xét xử sơ thẩm kết thúc vào năm 2017, chưa phản ánh toàn diện thực tiễn áp dụng sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành đầy đủ trên thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về nhóm tội xâm phạm tình dục theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong giai đoạn từ sau năm 2017 đến nay.
  • Nghiên cứu các hành vi xâm phạm tình dục phi truyền thống phát sinh trong môi trường công nghệ cao và không gian mạng.
  • Nghiên cứu liên ngành về các biện pháp tư pháp phục hồi, quy trình giám định tâm thần và các liệu pháp trị liệu bắt buộc đối với người phạm tội xâm phạm tình dục.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS năm 2015 và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra): Cung cấp các phân tích về cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử, hỗ trợ cán bộ tố tụng trong công tác phân loại hành vi, định tội danh chính xác, hạn chế tình trạng oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; đồng thời gợi mở phương pháp thu thập chứng cứ sinh học và bảo vệ nạn nhân.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu về luật hình sự, tội phạm học và tố tụng hình sự; cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử lập pháp và so sánh luật học phục vụ biên soạn giáo trình và bài tập thực hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án đưa ra khái niệm khoa học về các tội xâm phạm tình dục như thế nào?

Theo tác giả luận án, các tội xâm phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt tương xứng.

2. Thực tiễn xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm tình dục giai đoạn 2006 – 2017 trên cả nước được ghi nhận với số liệu cụ thể nào?

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao được trích dẫn trong luận án, trong giai đoạn 12 năm từ 2006 đến 2017, trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước đã đưa ra xét xử sơ thẩm 1.624 vụ án, tương ứng với 1.845 bị cáo phạm các tội xâm phạm tình dục.

3. Tình hình xâm phạm tình dục đối với trẻ em ở Việt Nam có những đặc điểm nào đáng lưu ý theo số liệu được trích dẫn?

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nêu trong văn bản, trung bình cứ 8 giờ lại có thêm một trẻ em bị xâm phạm tình dục (tương đương 3 trẻ em mỗi ngày). Về độ tuổi, xuất hiện nhiều vụ việc ở lứa tuổi từ 5 đến dưới 13 tuổi, thậm chí dưới 5 tuổi. Về quan hệ, 93% thủ phạm có mối quan hệ quen biết với nạn nhân, trong đó 47% là người thân hoặc họ hàng trong gia đình nạn nhân.

4. Những bất cập chính của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với nhóm tội xâm phạm tình dục được tác giả chỉ ra là gì?

BLHS năm 1999 bộc lộ các bất cập gồm: tên gọi một số tội danh về trẻ em không còn phù hợp với Luật Trẻ em năm 2016; quy định hành vi khách quan còn lạc hậu; khung hình phạt của một số tội còn nhẹ chưa tương xứng; chưa hình sự hóa các hành vi mới như dâm ô đối với người lớn và quấy rối tình dục, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm; thực tiễn xét xử còn sai sót trong định tội danh.

5. Vì sao tác giả cho rằng hình phạt nghiêm khắc đơn thuần chưa phải là giải pháp tối ưu trong một số trường hợp phạm tội xâm phạm tình dục?

Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm tội xuất phát từ bản năng nhu cầu tình dục bộc phát khi bị kích thích mà người phạm tội thiếu khả năng kiềm chế hoặc nhận thức pháp luật hạn chế, khác với các loại tội phạm có sự cân nhắc lý trí trước về hậu quả. Do đó, việc áp dụng chế tài tù nghiêm khắc đơn thuần chưa đủ để giải quyết tận gốc nguyên nhân, mà cần kết hợp thêm các hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp như lao động công ích, quản chế, hoặc cấm tiếp xúc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên khảo tiếp cận toàn diện nhóm tội phạm xâm phạm quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục dưới góc độ pháp lý hình sự. Luận án đã xây dựng định nghĩa khoa học, làm rõ 4 đặc điểm pháp lý và 5 yêu cầu lập pháp nền tảng, đồng thời phân tích chi tiết cấu thành 6 tội danh theo BLHS năm 1999. Thông qua việc tổng kết thực tiễn xét xử sơ thẩm 12 năm (2006 – 2017) của Tòa án nhân dân các cấp, công trình đã chỉ rõ những vướng mắc thực tế và khoảng trống lập pháp, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện BLHS năm 2015 cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tiễn.