Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và hiệu quả nhập khẩu Chương 3: Thực trạng hiệu quả nhập khẩu mặt hàng máy móc, thiết bị từ thị trường Nhật Bản của Công ty TNHH OSCO International Chương 4: Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng máy móc, thiết bị từ thị trường Nhật Bản của Công ty TNHH OSCO International 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU 2. Cơ sở lý luận về nhập khẩu 2. Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thành của hoạt động ngoại thương, là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm môi giới. Từ điển kinh tế học hiện đại của học viện công nghệ Massachuset định nghĩa: “Hàng nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng ở một nước nhưng mua ở nước khác”.
Theo khoản 2 điều 28, chương 2 Văn bản hợp nhất 17/VBHN-VPQH ngày 05/07/2019 về Luật thương mại, quy định: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, bản chất nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài tiến hành tiêu thụ hàng hóa vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất với các quốc gia. Đặc điểm nhập khẩu Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm riêng khác với kinh doanh nội địa. Những đặc điểm này có ảnh hưởng lớn tới hoạt động nhập khẩu.
*Về thị trường: Thị trường nhập khẩu rất đa dạng. Mỗi quốc gia có lợi thể so sánh trong sản xuất những mặt hàng nhất định. Do vậy nhà nhập khẩu có rất nhiều cơ hội để lựa chọn thị trường cung cấp cho mình. Việc nhập khẩu hàng hóa từ những thị trường nào cần tính đến những lợi ích thu được cũng như những chi phí phải bỏ ra khi nhập khẩu từ thị trường đó.
Điều này giúp doanh nghiệp đưa ra những con số cụ thể hơn nâng cao hiệu quả nhập khẩu. *Về môi trường pháp luật: Hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của hệ thống luật quốc gia và luật quốc tế. Giữa các nguồn luật này lại thường có sự mâu thuẫn, xung đột với nhau. Do đó khi tham gia hoạt động nhập khẩu, mọi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu để tránh những tranh chấp phát sinh.
6 * Về khách hàng: Kể cả khách hàng đầu vào (nguồn cung ứng) hay khách hàng tiêu thụ của doanh nghiệp đều rất đa dạng và thay đổi tùy thuộc nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp Nhập khẩu có cơ hội lựa chọn các đối tác phù hợp để đem lại lợi nhuận cao nhất cũng như mở rộng tập khách hàng tiêu thụ. * Về phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức khác nhau được sử dụng trong hoạt động thanh toán nhập khẩu: phương thức nhờ thu. phương thức chuyển tiền, phương thức tín dụng chứng từ,.
Tiền tệ trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao như đô la Mỹ (USD), EURO, bảng Anh,. Việc thanh toán hàng nhập khẩu lại thường sử dụng các loại ngoại tệ nên chịu tác động lớn của tỷ giá hối đoái. Vai trò của nhập khẩu Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương, không chỉ có vai trò quan trọng đối với từng doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế thế giới. *Đối với doanh nghiệp Hoạt động nhập khẩu là một trong những khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động nhập khẩu góp phần cung cấp hoàn thiện yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Vì vậy, đối với một doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó cần phải xem xét và nắm bắt tình hình nhập khẩu một cách kỹ càng về mặt hàng cần nhập có sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Hoạt động nhập khẩu tốt giúp cho doanh nghiệp: -Tiết kiệm chi phí sản xuất, dẫn đến tăng lợi nhuận -Tăng năng suất lao động -Tăng sức cạnh tranh trên thị trường -Mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh *Đối với nền kinh tế Nhập khẩu giúp giải quyết những nhu cầu đặc biệt của người tiêu dùng; bổ sung kịp thời những hàng hóa còn thiếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng; góp phần làm cân đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững, khai thác tối đa khả năng và tiềm năng của nền kinh tế. Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng ngoại nhập.
Trên cơ sở đó, tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, 7 cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng, đa dạng mẫu mã cho sản phẩm của mình. Nhập khẩu không chỉ thúc đẩy tính sáng tạo, cầu tiến của các nhà sản xuất trong nước để tạo ra sự phát triển cho xã hội mà còn giúp quốc gia thanh lọc các đơn vị sản xuất. Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội. Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, xóa bỏ nền kinh tế lạc hậu, chế độ tự cung, tự cấp.
Thông qua hoạt động nhập khẩu, người dân có nhiều sự lựa chọn hơn cho cuộc sống của mình, góp phần giảm bớt khoảng cách về mức sống. Nhập khẩu tiến tới sự hợp tác của các quốc gia, là cầu nối thông suốt của nền kinh tế tiên tiến trong và ngoài nước, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thể so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. Các hình thức nhập khẩu 2. Nhập khẩu trực tiếp Là hình thức mà người mua và người bán trực tiếp giao dịch với nhau, quá trình mua và bán không hề ràng buộc lẫn nhau.
Bên mua có thể mua mà không bán và ngược lại. Nhập khẩu trực tiếp được tiến hành khá đơn giản. Trong đó, bên nhập khẩu muốn ký kết được hợp đồng kinh doanh nhập khẩu thì phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác phù hợp, ký kết và thực hiện hợp đồng, tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí trong giao dịch. Nhập khẩu ủy thác Nhập khẩu ủy thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thương mại theo đó chủ hàng thuê một đơn vị trung gian thay mặt và đứng tên nhập khẩu hàng hóa bằng hợp đồng ủy thác.
Nói một cách dễ hiểu hơn, các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó, tuy nhiên lại không được phép nhập khẩu trực tiếp, hoặc gặp khó khăn trong quá trình kiếm, giao dịch với đối tác nước ngoài thì sẽ thuê những các doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu cho mình. 8 Trách nhiệm của bên nhận ủy thác là phải cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng được ủy thác, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Với hình thức này, doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu ủy thác không phải bỏ vốn, không cần xin hạn ngạch cũng như không phải tìm kiếm đối tác, giá cả. Đổi lại bên ủy thác sẽ trả phí dịch vụ cho bên nhận ủy thác nhập khẩu.
Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu có thể được coi là một phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế, được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch mua bán với chính phủ những nước đang phát triển. Hàng hóa và dịch vụ được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị tương đương. Trong phương thức này, chỉ với 1 hợp đồng doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời cả hai hoạt động trọng điểm là xuất khẩu và nhập khẩu. Lượng hàng hóa giao đi và hàng nhận về có giá trị tương đương nhau.
Do đó, doanh nghiệp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất khẩu và doanh thu trên hàng hóa nhập khẩu. Tạm nhập tái xuất Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ trong nước mà để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra. Khi tiến hành tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồng mua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước nhập khẩu.
Nhập khẩu gia công Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu mà bên nhập khẩu (bên nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên đặt gia công) để tiến hành gia công theo quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên. Hình thức nhập khẩu này được thực hiện chủ yếu trong ngành may mặc, da giày, điện tử, điện máy, công nghệ thông tin. Nhập khẩu liên doanh Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng phải chịu. Doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi ro bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên cũng tăng theo số vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp.
Cơ sở lý luận về hiệu quả nhập khẩu 2. Khái niệm về hiệu quả nhập khẩu Hiệu quả nhập khẩu của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nhập khẩu nói chung đáp ứng được nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu nhập khẩu của doanh nghiệp.