Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng về hiệu qua sử dụng tại Công ty cô phanThiét bi điện Hàn Quốc. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu qua sử dụng vốn tại Công ty cô phần Thiết bị điện Hàn Quốc. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE VON VÀ HIỆU QUA SỬ DỤNG VÓN CỦA DOANH NGHIỆP Vốn và hiệu quả vốn của doanh nghiệp luôn là van đề được các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu và người đầu tư quan tâm.
Dé có cái nhìn cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp chúng ta cần tìm hiểu tổng quan về vốn trong doanh nghiệp gôm các vân đê cơ bản được nêu dưới đây: Id, Tổng quan về vốn trong doanh nghiệp 1. Khát niệm Vốn là yếu tố cơ bản, là tiền đề không thé thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn là nguồn hình thành chủ yếu của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động. Có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn: Theo quan điểm của Karl Marx: “Vốn (tư bản) là giá tri tao ra giá tri thang dư là đầu vào của quá trình sản xuất”.
Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuât mới tao ra được giá tri gia tăng cho nên kinh tê. Trong nên kinh tế thị trường hiện nay, vốn của doanh nghiệp được hiểu là biểu hiện băng tiền của toàn bộ giá tri tài san được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhăm mục đích sinh lời. Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tô đầu vào của quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong khu vực sản xuất mà bao gồm toàn bộ mọi quá trình sản xuât và tái sản xuât liên tục trong thời gian tôn tai của doanh nghiệp. Đặc điểm về vốn trong doanh nghiệp Thứ nhất: Vôn là đại điện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bang giá tri của các tài san hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bi, chất xám, thông tin,.
Một lượng tiền phát hành đã thoát lý giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư, những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không được coi là vốn. Thứ hai: Vôn luôn vận động dé sinh lời. Sự vận động của vốn được khái quát như sau: T—H—SX—H' -T' Vậy sẽ có các khả năng xảy ra: T’ > T: quá trình san xuất kinh doanh có lợi nhuận T”=T: kinh doanh trong tình trạng hòa vốn T’ <T: quá trình sản xuất kinh doanh thua lỗ Từ sơ đồ trên ta thấy vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Dé biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thê thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm cuối cùng của chu kỳ phải là giá trị, là tiền và có giá trị lớn hơn điểm bắt đầu. Đây chính là nguyên lý dau tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Thứ ba: Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ bị lãng phí, không hiệu quả.
Ở đây cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ. Và dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trong quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc dé huy động và quản lý vốn. Thứ tu: Phải xem xét vê yêu tô thời gian của đông von, điêu này có nghĩa là von có giá trị vé mặt thời gian.
Trong điêu kiện cơ chê thị trường, phải xem xét yêu tô thời gian vì ảnh hưởng sự biên động của giá cả, lạm phát nên giá tri của dong tiên ở mỗi thời kỳ là khác nhau. Thứ năm: Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thé phát huy được tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguôn vôn từ bên ngoài như phát hành cô phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được gom thành món lớn.
Thứ sáu: Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nên kinh tế thị trường. Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. Khi đó quyền sở hữu vốn không bị chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, vốn khi bán đi sẽ không mat quyền sở hữu mà chi mat quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
Việc mua này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường. Thứ bảy: Vốn không chỉ được biéu biện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình: Tài sản vô hình của doanh nghiệp có thê là vị trí địa lý, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng ché, các bí quyết về công nghệ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Những đặc trưng trên cho thấy rằng vốn kinh doanh được sử dụng cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh được ứng ra trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh được bắt đầu. Và sau một chu kỳ hoạt động vốn kinh doanh phải được thu về để sử dụng cho các chu kỳ hoạt động tiếp theo. Phân loại von trong doanh nghiép. Vốn là một yếu tố hết sức quan trong trong quá trình SXKD.
Vì vậy, tùy theo mục đích của người quản lý mà có rất nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng vốn được phân loại căn cứ theo hai tiêu thức cơ bản: căn cứ vào nguồn hình thành vốn và căn cứ vao đặc điêm luân chuyên giá tri. Phân loại vốn theo nguồn hình thành Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp thường rất lớn, phải luôn được đảm bảo đầy đủ, kịp thời nên thường được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Nghiên cứu 10 nguồn hình thành vốn sẽ giúp DN lựa chọn được hình thức huy động vốn thích hợp và có hiệu quả.
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn có thê chia vốn thành hai loại: Nợ phải trả và Vôn chủ sở hữu % No phải trả: là khoản phải trả cho nhà cung cấp, ngân hàng, các đối tượng khác mà tạm thời doanh nghiệp chưa trả được và tận dụng làm vốn kinh doanh. Nợ phải trả bao gồm: - Vốn chiếm dụng: trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN đương nhiên phát sinh các quan hệ thanh toán giữa DN với các tác nhân kinh tế khác như Nhà nước, với cán bộ công nhân viên, với khách hàng, với người bán. Từ đó mà phát sinh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về vốn chiếm dụng hợp pháp có các khoản vốn sau: Các khoản nợ người bán chưa đến hạn thanh toán, đặt cọc trả trước của người mua hàng, các khoản nộp ngân sách Nhà nước chưa đến hạn nộp, các khoản phải thanh toán với cán bộ công nhân viên chưa đến hạn thanh toán.
Nguôn vốn chiếm dụng chi mang tính chất tạm thời, DN chỉ có thé sử dụng trong thời gian ngắn nhưng nó có ưu điểm nổi bật là không phải trả chi phí sử dụng vốn, đòn bay tai chính luôn dương nên trong thực tế DN nên triệt đề tận dụng nguồn vốn này trong giới hạn cho phép nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà vẫn đảm bảo kỳ hạn thanh toán. - Vốn vay: Các khoản tiền vay vốn ngân hàng, cá nhân, các tổ chức kinh tế; nợ trái phiếu.Hoạt động sản xuất kinh doanh của DN phải được đảm bảo tiễn hành một cách liên tục. Tuy nhiên, không phải lúc nào các khâu trong quá trình vận động của vốn cũng được thực hiện một cách ăn khớp, DN không thể chờ sản phẩm sản xuất ra, phân phối, tiêu thụ đến khi thu được tiền rồi mới tiến hành sản xuất tiếp. Nhu cầu vốn của DN là vô cùng, ở mỗi thời điểm lại không giống nhau.
Chính vì vậy, bên cạnh VCSH, một DN trong những trường hợp cần thiết vẫn phải đi vay vốn của ngân hàng hoặc các tô chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD. Việc di vay vốn một mặt giải quyết nhu cầu về vốn, đảm bảo cho sự 6n định và liên tục của quá trình SXKD. Nếu sử dụng hợp lý sẽ cho phép DN tăng sức cạnh tranh, tận dụng được cơ hội đầu tư, ngược lại nếu tỷ lệ vốn vay trong tổng nguồn 11 vôn quá cao sẽ gây ra các nguy cơ vỡ nợ, mât khả năng thanh toán và có thê dân đên phá san. Thông thường, một DN phải phối hợp nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD.
Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà DN đang hoạt động cũng như quyết định của người quản lý trên cơ sở điêu kiện thực tê của DN. % Vốn chủ sở hữu: là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ DN va các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cô phan. Đối với mọi loại hình DN, VCSH của DN bao gồm vốn góp do chủ sở hữu bỏ ra và phan tự bổ sung vốn từ kết quả kinh doanh. - Vốn góp do chủ sở hữu bỏ ra tùy thuộc vào hình thức sở hữu và quy mô của DN.