phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. - Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. - Chƣơng 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1.
Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy Con ngƣời đã phát hiện và sử dụng các chất ma tuý từ cách đây khoản 6000 năm. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma tuý đã trở thành thói quen và tập tục của nhiều nƣớc trên thế giới, từ thời thƣợng cổ ngƣời Ba Tƣ và ngƣời Ai Cập đã biết dùng nhựa mủ cây thuốc phiện để hút, tạo cảm giác hƣng phấn, dễ chịu cho con ngƣời khi sử dụng.
Điều này chứng minh ma tuý đã tồn tại từ rất lâu đời vì thế có nhiều cách hiểu khác nhau về ma tuý: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Ma túy là bất kỳ chất gì khi đƣa vào cơ thể sống có thể thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”. Năm 1982 WHO đã phát triển định nghĩa ma túy nhƣ sau: “Ma túy theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hóa học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái đƣợc đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thƣờng, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học” Theo các chuyên gia về ma tuý của Liên hợp quốc thì: “Ma tuý là những chất có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con ngƣời sẽ làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con ngƣời bị lệ thuộc vào ma tuý gây nên những tổn thƣơng cho cá nhân và cộng đồng” Theo từ điển Tiếng Việt năm 1991 thì ma túy là chất bột trắng kết tinh dẫn xuất từ Moocphin rất độc, dùng làm thuốc giảm đau, ngƣời lạm dụng có cảm giác thần kinh bị tê liệt và lâu dài có thể nghiện. Theo quy định của Luật phòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) đƣợc Quốc hội thông qua ngày 09/10/2000 thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”. Đồng 6 thời Luật cũng giải thích: “Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với ngƣời sử dụng.
Chất hƣớng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với ngƣời sử dụng” Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSTC – TANDTC – BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tƣ pháp đƣa ra khái niệm về chất ma túy tƣơng tự nhƣ Luật phòng chống ma túy năm 2000 đó là: “Ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành”. Theo cách hiểu thông thƣờng thì ma tuý là chất gây nghiện, bị nhà nƣớc cấm. Ma tuý bao gồm nhiều loại nhƣ: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain, các chất ma tuý tổng hợp. Nếu tách từ “ma tuý” thành riêng lẻ từ “ma‟ và từ “túy” thì từ “ma” có nghĩa là “tê liệt” và từ “tuý” là “say sƣa‟.
“Ma tuý là các chất hoá học có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế thần kinh, có tính chất gây nghiện và khi đƣa vào cơ thể quá liều sẽ làm thay đổi các chức năng tâm sinh lý bình thƣờng của con ngƣời” Các chất ma túy đƣợc quy định trong danh mục do Chính phủ Việt Nam ban hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP gồm có 235 chất ma túy, chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất chất ma túy. Khoản 1 điều 8 BLHS năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền quốc gia, an ninh, trật tự, an tòan xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự xã hội chủ nghĩa. Tàng trữ ma tuý: Là việc cất giữ, cất giấu chất ma tuý ở bất cứ nơi nào (nhƣ trong nhà, ngoài vƣờn, chôn cất dƣới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tƣ trang mặc trên ngƣời hoặc theo ngƣời…mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma tuý. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hƣởng đến việc xác định tội này.
7 Từ các khái niệm về chất ma túy và tàng trữ ma tuý nêu trên, khái niệm tội phạm quy định tại Khoản 1 điều 8 BLHS năm 1999, khái niệm các tội phạm về ma túy và từ quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có thể đƣa ra khái niệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ sau: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nƣớc và phải bị xử lý hình sự. Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy * Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [22, tr. Vậy, khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chế đội độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về việc cất giữ các chất ma túy. Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSTC – TANDTC – BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tƣ pháp đƣa ra khái niệm vật chất ma túy tƣơng tự nhƣ Luật phòng chống ma túy năm 2000 đó là: “Ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành”.
Các chất ma tuý đƣợc liệt kê trong bảng 1, bảng 2, bảng 3 và bảng 4 danh mục các chất ma tuý, chất hƣớng thần, theo quy định của Công ƣớc quốc tế 1961; 1971; 1988. Công ƣớc này Việt Nam đã tham gia theo quyết định số 798-QĐ/CTN ngày 01-9-1997 của Chủ tịch Nƣớc cộng hoà xã hội Việt Nam. Ở nƣớc ta, các chất ma túy đƣợc quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP. Các dạng ma túy thƣờng gặp ở nƣớc ta là Hêroin, Môcphin, cần sa, thuốc phiện và một số loại ma túy ở dạng thuốc tân dƣợc nhƣ Suzusen, Dolagăng, Methamphetamin….
* Mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý Mặt khách quan của tội phạm được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan [22, tr. Những biểu hiện đó bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm 8 cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phƣơng tiện, phƣơng pháp, thủ đoạn phạm tội… Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Đây là tội có cấu thành tội phạm hình thức; tội phạm này đƣợc coi là hoàn thành từ thời điểm ngƣời phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi khách quan cụ thể sau: - “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (nhƣ trong nhà, ngoài vƣờn, chôn dƣới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tƣ trang mặc trên ngƣời hoặc theo ngƣời…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hƣởng đến việc xác định tội này.
Nếu tàng trữ trái phép chất ma túy cho ngƣời khác mà biết rõ ngƣời này mua bán trái phép chất ma túy đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm. Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trƣờng hợp ngƣời phạm tội cất giấu ma tuý trên phƣơng tiện giao thông nhƣng lại không có mục đích vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, mặc dù trên thực tế phƣơng tiện giao thông đó di chuyển từ nơi này đến nơi khác thì ngƣời phạm tội vẫn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý. Thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định ngƣời phạm tội có tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không. Thực tiễn xét xử có nhiều trƣờng hợp khó xác định ngƣời phạm tội có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không, bởi lẽ đặc điểm chung của các tội phạm về ma tuý là ngƣời phạm tội không bao giờ chịu nhận hành vi thật của mình nếu cơ quan tiến hành tố tụng không có bằng chứng.
Nếu chỉ căn cứ vào nơi cất giấu ma tuý thì dễ cho rằng ngƣời phạm tội không có hành vi tàng trữ, nhƣng nếu căn cứ vào các tình tiết khác của vụ án thì vẫn xác định đƣợc hành vi tàng trữ của ngƣời phạm tội.