Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thanh tra là chức năng thiết yếu gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước, giữ vai trò kiểm soát việc thực thi quyền lực hành pháp, phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước cùng quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong tiến trình lịch sử, thể chế thanh tra Việt Nam từng bước được củng cố thông qua các văn bản từ Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945, Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến các đạo Luật Thanh tra năm 2004, 2010 và 2022. Tuy nhiên, hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước nói chung và Thanh tra huyện nói riêng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: hệ thống quy phạm pháp luật thiếu tính đồng bộ, tình trạng chồng chéo về phạm vi và đối tượng thanh tra, quyền hạn thanh tra còn bị ràng buộc, việc thực thi các kết luận sau thanh tra thiếu chế tài nghiêm khắc, công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có thời điểm còn chậm trễ và chất lượng đội ngũ công chức chưa thực sự đồng đều.

Tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, mặc dù cơ quan thanh tra đã có nhiều nỗ lực cải cách hành chính và đổi mới tổ chức, thực tiễn thi hành các quy định pháp luật vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc, làm suy giảm hiệu quả quản trị địa phương. Nhằm nhận diện toàn diện các rào cản pháp lý và tổ chức vận hành, khóa luận tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện mô hình cơ quan thanh tra hành chính cấp huyện từ thực tiễn địa phương.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức, hoạt động của Thanh tra huyện; phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện Đức Thọ giai đoạn 2019 - 2023 nhằm xác định ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện.
  2. Trình bày, phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn năm 2019 - 2023.
  3. Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi dựa trên thực trạng và định hướng phát triển của Nhà nước, địa phương nhằm hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Thanh tra huyện nói chung và Thanh tra huyện Đức Thọ nói riêng trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Các quy định pháp luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Thanh tra huyện và thực tiễn thi hành tại Thanh tra huyện Đức Thọ với tư cách là cơ quan thanh tra theo cấp hành chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của công trình đặt trên nền tảng khoa học luật hành chính và quản lý nhà nước về thanh tra. Tác giả vận dụng các khái niệm quản lý và thanh tra nhà nước của TS. Trần Đức Lượng, nghiên cứu đổi mới thể chế thanh tra của TS. Phạm Tuấn Khải (1998), nghiên cứu phòng chống tham nhũng và mô hình Ngự sử đài của PGS. Nguyễn Quốc Sửu (2021), cùng các luận án, luận văn chuyên khảo của TS. Trần Văn Long (2019), Tạ Quang Duy (2023), Cao Văn Tâm (2016), Nguyễn Đình Quang (2017) và ấn phẩm nghiên cứu so sánh kinh nghiệm thanh tra Liên bang Nga của Lưu Hoài Bảo (2022).

Cơ sở pháp lý trung tâm của đề tài gồm:

  • Hiến pháp các năm 1980, 1992 và 2013 (đặc biệt là Điều 4 về vai trò lãnh đạo của Đảng và khoản 1 Điều 2).
  • Luật Thanh tra năm 2022 (quy định tại khoản 1 Điều 2 về khái niệm thanh tra; Điều 3 về mục đích hoạt động; Điều 8 về hành vi bị nghiêm cấm; Điều 23 về trách nhiệm của Thanh tra tỉnh; khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 33 về vị trí, cơ cấu nhân sự; Điều 38, 39, 40, 41 về tiêu chuẩn ngạch Thanh tra viên; khoản 1 Điều 46 về hình thức thanh tra; điểm c khoản 2 Điều 61).
  • Thông tư số 02/2023/TT-TTCP ngày 22/12/2023 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện (khoản 1 Điều 4, khoản 7 và khoản 8 Điều 5, khoản 1 Điều 6).
  • Các luật chuyên ngành liên quan: Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
  • Quyết định số 02/2023/QĐ-UBND ngày 12/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đức Thọ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra huyện Đức Thọ.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, giám sát và quản lý nhà nước.
  • Phương pháp hệ thống hóa tài liệu: Sử dụng để rà soát, xâu chuỗi các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học nhằm xác lập cơ sở lý thuyết vững chắc.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Tiếp cận hồ sơ, tài liệu, các báo cáo tổng kết chuyên môn và kế hoạch hành chính do Thanh tra huyện Đức Thọ cung cấp.
  • Phương pháp tổng hợp thống kê, xử lý dữ liệu: Phân loại, tổng hợp số liệu về nhân sự, số lượng cuộc thanh tra, kết quả xử lý kinh tế, số lượt tiếp công dân và tiến độ xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong chu kỳ 5 năm (2019 - 2023); đồng thời xử lý số liệu so sánh đối chiếu với địa bàn lân cận (huyện Can Lộc).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ báo cáo tổng kết công tác thanh tra, báo cáo kết quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng các năm từ 2019 đến 2023 của Thanh tra huyện Đức Thọ và Ủy ban nhân dân huyện Đức Thọ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện

Chương này tập trung làm rõ bản chất lý luận và khuôn khổ pháp lý điều chỉnh thiết chế Thanh tra huyện với ba mảng nội dung cốt lõi:

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thanh tra huyện: Khóa luận phân tích sự phát triển của khái niệm thanh tra qua các thời kỳ lập hiến và lập pháp, viện dẫn định nghĩa tại khoản 1 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2022. Theo khoản 1 Điều 30 Luật Thanh tra năm 2022 và khoản 1 Điều 4 Thông tư số 02/2023/TT-TTCP, Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Tác giả luận giải 05 đặc điểm pháp lý cơ bản của thiết chế này:

  • Tổ chức theo nguyên tắc "song trùng trực thuộc": chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện theo chiều ngang; đồng thời chịu sự hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và kiểm tra của Thanh tra tỉnh theo chiều dọc.
  • Hoạt động mang bản chất thanh tra hành chính: cơ quan chỉ thực hiện thanh tra hành chính đối với các đối tượng trực thuộc quyền quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện (phòng ban chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp xã), không có chức năng thanh tra chuyên ngành và không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trực tiếp mà áp dụng biện pháp kỷ luật cán bộ, công chức hoặc kiến nghị xử lý.
  • Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước: thể hiện qua thẩm quyền ban hành quyết định thanh tra, yêu cầu cung cấp hồ sơ, kiểm tra thực tế, niêm phong tài liệu hoặc chuyển cơ quan điều tra khi phát hiện dấu hiệu tội phạm.
  • Hoạt động gắn liền với quản lý nhà nước ở cấp huyện, đáp ứng mục tiêu quản trị địa phương.
  • Hoạt động có tính khách quan và độc lập tương đối: độc lập về tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản tạm giữ, song vẫn bị ràng buộc bởi quyết định quản lý của Thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp. Về vai trò, cơ quan đóng góp vào 05 phương diện: là mắt xích thiết yếu trong chu trình quản trị địa phương; bảo đảm pháp chế và kỷ cương hành chính; bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân; hạn chế lạm quyền, phòng ngừa vi phạm pháp luật; và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Quy định pháp luật hiện hành: Về tổ chức, luật định cơ cấu gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và công chức khác. Quy trình bổ nhiệm Chánh Thanh tra huyện có tính đặc thù khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tham khảo ý kiến của Chánh Thanh tra tỉnh. Về hoạt động, Luật Thanh tra năm 2022 đã bãi bỏ hình thức thanh tra thường xuyên, chỉ giữ lại thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất (thực hiện qua Đoàn thanh tra). Hoạt động chuyên môn được chia thành ba nhóm: quản lý nhà nước về thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; trực tiếp tiến hành các cuộc thanh tra; và trực tiếp tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo, xác minh tài sản thu nhập. Tác giả lưu ý điểm mới tại Điều 23 Luật Thanh tra năm 2022: kế hoạch thanh tra của huyện phải được Thanh tra tỉnh tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, làm giảm bớt tính chủ động độc lập nhưng tăng tính đồng bộ.

Yếu tố tác động: Tác giả phân tích 05 nhóm yếu tố chi phối tổ chức và hoạt động thanh tra huyện: yếu tố chính trị (sự lãnh đạo toàn diện của Đảng theo Điều 4 Hiến pháp); yếu tố hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (tính đồng bộ, kịp thời của các văn bản hướng dẫn); yếu tố con người (phẩm chất, bản lĩnh và trình độ nghiệp vụ của đội ngũ công chức); yếu tố kinh tế, cơ sở vật chất (chế độ phụ cấp nghề, trang thiết bị công nghệ, phòng tiếp dân); và yếu tố văn hóa, xã hội (tâm lý dòng họ làng xã, thói quen "phép vua thua lệ làng" gây e ngại va chạm trong quá trình thanh tra).

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

Chương này trình bày chi tiết bức tranh thực tiễn tại huyện Đức Thọ - địa bàn cửa ngõ phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh với 16 đơn vị hành chính (01 thị trấn và 15 xã), quy mô dân số khoảng 101.000 người, kinh tế chuyển dịch với nông nghiệp chiếm 19,1%, công nghiệp - xây dựng chiếm 39%, thương mại - dịch vụ chiếm 41,9%, thu nhập bình quân đầu người đạt 54,7 triệu đồng/năm và tỷ lệ hộ nghèo còn 3,05%. Sự phát triển hạ tầng (đường cao tốc Bắc - Nam đoạn Diễn Châu - Bãi Vọt, Quốc lộ 8A) kéo theo áp lực lớn về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, làm phát sinh khiếu kiện phức tạp.

Thực tiễn tổ chức và nhân sự: Thanh tra huyện Đức Thọ hoạt động theo Quyết định số 02/2023/QĐ-UBND. Tính đến năm 2024, cơ cấu nhân sự gồm 04 công chức: Chánh Thanh tra Phan Thanh Phương, Phó Chánh Thanh tra Phan Quốc Cường, Phó Chánh Thanh tra Nguyễn Minh Quyến và Thanh tra viên Nguyễn Thị Thúy Hoàn.

Chức vụ Trình độ chuyên môn Nghiệp vụ (ngạch) Lý luận chính trị Loại hình đào tạo
Chánh Thanh tra (01) Sau Đại học (01 Thạc sĩ Luật) Thanh tra viên chính (01) Cao cấp (01) Vừa làm vừa học (01)
Phó Chánh Thanh tra (02) Đại học (01 Cử nhân Kế toán, 01 Kinh tế Nông nghiệp) Thanh tra viên (02) Cao cấp (02) Chính quy (01), Vừa làm vừa học (01)
Thanh tra viên (01) Đại học (01 Kinh tế Nông nghiệp) Thanh tra viên (01) Trung cấp (01) Vừa làm vừa học (01)
Tổng số: 04 100% từ Đại học trở lên 01 TTV chính, 03 TTV 03 Cao cấp, 01 Trung cấp 01 Chính quy, 03 Vừa làm vừa học

Thực tiễn hoạt động chuyên môn giai đoạn 2019 - 2023:

  • Công tác tham mưu quản lý nhà nước: Ban hành các văn bản hướng dẫn như Văn bản số 4288/UBND-TTr (06/12/2022) về kê khai minh bạch tài sản thu nhập; Văn bản số 12/UBKT-TTr (15/12/2022); Văn bản số 893/UBND-TTr (14/4/2023) về công tác tiếp dân, phòng chống tham nhũng. Trong 5 năm, cơ quan đã đôn đốc thực hiện 10 kết luận thanh tra, kiến nghị 20 tập thể và 38 cá nhân rút kinh nghiệm; đôn đốc thực hiện 46 quyết định, kết luận về khiếu nại, tố cáo có hiệu lực (34 quyết định giải quyết khiếu nại, 12 kết luận nội dung tố cáo); thi hành kỷ luật Đảng 06 tổ chức, kết luận 02 đảng viên có vi phạm nhưng chưa đến mức kỷ luật.
  • Hoạt động thanh tra trực tiếp:
Năm Tổng số cuộc Theo kế hoạch Đột xuất Tiến độ hoàn thành đúng Thu hồi tiền về NSNN (đồng)
2019 08 07 01 08 58.000
2020 05 05 00 05 -
2021 15 12 03 14 -
2022 06 06 00 06 -
2023 05 05 00 05 -
Tổng 39 35 04 38 585.000 (đạt 100%)

Hoạt động thanh tra tập trung vào 4 nhóm trọng điểm: (1) Quản lý ngân sách, xây dựng cơ bản và kinh phí nông thôn mới tại các xã Tân Hương, An Dũng, Đức Lạng, Liên Minh, Trường Sơn, Tùng Ảnh, Thanh Bình Thịnh; (2) Mua sắm trang thiết bị y tế, kít xét nghiệm phòng chống dịch Covid-19 tại Trung tâm Y tế huyện Đức Thọ; (3) Thu chi tài chính và các khoản đóng góp tự nguyện tại 07 trường học (Mầm non Liên Minh, Mầm non Trường Sơn, Tiểu học thị trấn Đức Thọ, Tiểu học Đức Thịnh, Tiểu học Tùng Ảnh, THCS Hoàng Xuân Hãn, THCS Lê Văn Thiêm); (4) Thanh tra trách nhiệm thực hiện Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng tại các xã Hòa Lạc, Tân Dân, Bùi La Nhân. Số cuộc thanh tra biến động mạnh: năm 2020 chỉ đạt 05 cuộc do gián đoạn dịch bệnh Covid-19; năm 2021 tăng vọt lên 15 cuộc (trong đó có 3 cuộc đột xuất) phục vụ bầu cử Quốc hội khóa XV, Hội đồng nhân dân các cấp 2021 - 2026 và công tác giải phóng mặt bằng cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt. Trong 39 cuộc thanh tra, có 01 cuộc không hoàn thành đúng tiến độ do vụ việc phức tạp.

  • Hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo: Trong giai đoạn 2019 - 2023, toàn huyện đã tiếp 748 lượt công dân (258 lượt tiếp định kỳ, 490 lượt tiếp thường xuyên; có 03 đoàn đông người). Tổng số đơn thư tiếp nhận là 295 đơn (145 khiếu nại, 28 tố cáo, 122 kiến nghị phản ánh). Trong đó, số đơn thư thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện là 179 đơn (110 khiếu nại, 19 tố cáo, 50 kiến nghị phản ánh). Thanh tra huyện đã tiến hành xác minh và kiến nghị giải quyết hoàn thành 178/179 vụ việc, đạt tỷ lệ 97,5% (chỉ còn 01 đơn khiếu nại năm 2023 có tính chất phức tạp chuyển sang kỳ sau). Đối chiếu với huyện lân cận Can Lộc (tiếp 1.058 lượt người, tiếp nhận 405 đơn thư, giải quyết đạt tỷ lệ 95,55%), tỷ lệ giải quyết đơn thư của huyện Đức Thọ đạt mức cao hơn.

Đánh giá thực trạng: Khóa luận chỉ ra ưu điểm: bộ máy tổ chức tinh gọn, phân công rõ người rõ việc; 100% cán bộ đạt chuẩn ngạch thanh tra viên và có trình độ đại học trở lên; công tác thanh tra bám sát vấn đề nóng của địa phương, tỷ lệ thu hồi tiền sai phạm đạt 100%. Tuy vậy, cơ quan còn tồn tại hạn chế: số lượng cuộc thanh tra hàng năm nhìn chung còn ít (dưới 15 cuộc/năm); nhân sự quá mỏng (chỉ 04 biên chế cho toàn bộ khối lượng công việc thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trên toàn huyện); hoạt động thanh tra thiếu tính ổn định giữa các năm; còn 01 cuộc thanh tra và 01 đơn thư bị chậm tiến độ. Nguyên nhân chủ yếu do biên chế hạn chế, áp lực khối lượng đơn thư về đất đai lớn, các quy định chuyển tiếp của Luật Thanh tra năm 2022 đòi hỏi quy trình chặt chẽ hơn qua cấp tỉnh.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện

Chương 3 xây dựng các định hướng hoàn thiện gắn với bối cảnh thi hành Luật Thanh tra năm 2022 và Thông tư số 02/2023/TT-TTCP:

  • Nhu cầu hoàn thiện: Xuất phát từ yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước tại cơ sở, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong phân bổ nguồn lực công và giải quyết dứt điểm các điểm nóng tranh chấp đất đai.
  • Nhóm giải pháp chung: Kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật để xác lập cơ chế phân định rõ thẩm quyền giữa Thanh tra tỉnh và Thanh tra huyện trong phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm; tạo hành lang pháp lý linh hoạt để cơ quan thanh tra huyện chủ động quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm tại địa phương mà không phải chờ thủ tục hành chính kéo dài; hoàn thiện các chế tài cưỡng chế thực hiện kết luận sau thanh tra.
  • Nhóm giải pháp cụ thể áp dụng tại Thanh tra huyện Đức Thọ: Kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ sung chỉ tiêu biên chế công chức chuyên trách nhằm giảm tải cho đội ngũ hiện tại; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng điều tra, xác minh chuyên sâu cho công chức về tài chính công, quản lý dự án đất đai và đầu tư công nghệ số trong quản lý đơn thư; nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị thiết bị ghi âm, ghi hình chuyên dụng phục vụ phòng tiếp dân và hoạt động của Đoàn thanh tra; siết chặt cơ chế phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, Công an huyện, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân huyện trong việc xử lý tin báo vi phạm và chuyển hồ sơ các vụ việc có dấu hiệu hình sự.

Kết quả và đóng góp

Công trình đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và cung cấp hệ thống dữ liệu hành chính thực chứng về tổ chức, hoạt động của cơ quan thanh tra cấp huyện trong giai đoạn 2019 - 2023 với các kết quả cụ thể:

  • Thực hiện 39 cuộc thanh tra (35 cuộc theo kế hoạch, 04 cuộc đột xuất), thu hồi nộp ngân sách nhà nước 585.000 đồng đạt tỷ lệ 100%.
  • Tham mưu ban hành và đôn đốc thực hiện 10 kết luận thanh tra, kiến nghị 20 tập thể và 38 cá nhân rút kinh nghiệm; xử lý 46 quyết định, kết luận khiếu nại, tố cáo, qua đó thi hành kỷ luật Đảng 06 tổ chức và kết luận vi phạm đối với 02 đảng viên.
  • Phục vụ tiếp 748 lượt công dân (với 03 đoàn đông người), xử lý thành công 178/179 đơn thư thuộc thẩm quyền huyện, đạt tỷ lệ giải quyết 97,5%.
  • Xác lập hồ sơ nhân sự chi tiết: bộ máy tinh gọn gồm 04 công chức (01 Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra, 01 Thanh tra viên), trong đó 100% có trình độ từ đại học trở lên và đã qua đào tạo lý luận chính trị.

Về mặt đóng góp, đề tài bổ sung luận cứ thực tiễn cho ngành luật hành chính về mô hình tổ chức "song trùng trực thuộc" của cơ quan thanh tra hành chính cấp huyện ở thời điểm chuyển giao thi hành Luật Thanh tra năm 2022 và Thông tư số 02/2023/TT-TTCP. Khóa luận là công trình nghiên cứu trực tiếp đầu tiên đánh giá toàn diện tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện Đức Thọ trong chu kỳ 5 năm, chỉ rõ tác động của các sự kiện chính trị - kinh tế lớn tại địa phương (bầu cử năm 2021, dự án cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt) đến hoạt động thanh tra hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có giới hạn nghiên cứu tập trung tại một đơn vị hành chính cấp huyện (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong giai đoạn 2019 - 2023. Tác giả tự nhận định công trình không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định về mặt nội dung và hình thức do điều kiện tiếp cận tư liệu thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài là tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn vận hành của Thanh tra huyện khi Luật Thanh tra năm 2022 và Thông tư số 02/2023/TT-TTCP đi vào đời sống quản lý lâu dài; mở rộng phạm vi so sánh mô hình tổ chức và năng lực thanh tra hành chính giữa nhiều địa bàn cấp huyện có điều kiện kinh tế - xã hội khác biệt trong toàn tỉnh Hà Tĩnh và khu vực Bắc Trung Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, chuyên ngành Thanh tra, Quản lý nhà nước và Luật Hành chính làm tài liệu học tập, nghiên cứu về cơ chế vận hành của cơ quan thanh tra theo cấp hành chính.
  • Cán bộ, công chức đang công tác tại Thanh tra huyện Đức Thọ và các cơ quan thanh tra cấp huyện khác trong việc tham khảo phương pháp phân loại, thống kê dữ liệu tiếp công dân, xây dựng kế hoạch thanh tra và quản lý hồ sơ sau thanh tra.
  • Bộ phận tham mưu của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc rà soát quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ lãnh đạo cơ quan thanh tra theo Quyết định số 02/2023/QĐ-UBND và Thông tư số 02/2023/TT-TTCP.

Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu gồm: hệ thống hóa sự khác biệt giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; bảng tổng hợp cơ cấu nhân sự và bảng số liệu thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 5 năm của huyện Đức Thọ.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu nhân sự của Thanh tra huyện Đức Thọ năm 2024 được tổ chức như thế nào? Tính đến năm 2024, Thanh tra huyện Đức Thọ có 04 công chức: Chánh Thanh tra Phan Thanh Phương, Phó Chánh Thanh tra Phan Quốc Cường, Phó Chánh Thanh tra Nguyễn Minh Quyến và Thanh tra viên Nguyễn Thị Thúy Hoàn. Về trình độ chuyên môn, 01 đồng chí có bằng Thạc sĩ Luật (25%), 01 Cử nhân Kinh tế ngành Kế toán (25%) và 02 Cử nhân Kinh tế Nông nghiệp (50%). Về ngạch công chức, có 01 Thanh tra viên chính và 03 Thanh tra viên. Về lý luận chính trị, 03 đồng chí đạt trình độ Cao cấp và 01 đồng chí đạt trình độ Trung cấp.

Hoạt động thanh tra trực tiếp của Thanh tra huyện Đức Thọ giai đoạn 2019 - 2023 đạt kết quả ra sao? Trong giai đoạn 2019 - 2023, cơ quan đã tiến hành 39 cuộc thanh tra (35 cuộc theo kế hoạch, 04 cuộc đột xuất), kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước 585.000 đồng đạt tỷ lệ 100%. Các lĩnh vực thanh tra trọng tâm gồm: quản lý tài chính ngân sách và kinh phí xây dựng nông thôn mới tại 07 xã; mua sắm trang thiết bị, kít xét nghiệm phòng chống Covid-19 tại Trung tâm Y tế huyện; quản lý thu chi và đóng góp của phụ huynh tại 07 trường học; và thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật tiếp dân, khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng tại 03 xã. Có 38/39 cuộc hoàn thành đúng tiến độ, 01 cuộc bị chậm do tính chất phức tạp.

Kết quả tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của huyện Đức Thọ thể hiện qua các con số nào? Trong 5 năm, toàn huyện tiếp 748 lượt người (258 lượt định kỳ, 490 lượt thường xuyên, 03 đoàn đông người), tiếp nhận 295 đơn thư (145 khiếu nại, 28 tố cáo, 122 kiến nghị phản ánh). Trong số 179 đơn thư thuộc thẩm quyền cấp huyện giải quyết (110 khiếu nại, 19 tố cáo, 50 phản ánh), Thanh tra huyện đã xác minh và kiến nghị giải quyết 178/179 vụ việc, đạt tỷ lệ 97,5%, chỉ chuyển 01 đơn khiếu nại năm 2023 sang kỳ sau xử lý. Tỷ lệ này cao hơn huyện Can Lộc lân cận (đạt 95,55% với 260/262 đơn).

Vì sao số lượng các cuộc thanh tra tại huyện Đức Thọ tăng đột biến vào năm 2021? Năm 2021 ghi nhận 15 cuộc thanh tra (tăng gấp ba lần so với năm 2020 chỉ có 05 cuộc, và gấp ba lần năm 2023 có 05 cuộc), bao gồm cả 03 cuộc thanh tra đột xuất. Sự gia tăng này xuất phát từ hai sự kiện lớn: công tác bảo đảm trật tự phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; cùng với các vấn đề giải phóng mặt bằng, bồi thường phát sinh trong quá trình triển khai dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn Diễn Châu - Bãi Vọt đi qua địa bàn huyện.

Luật Thanh tra năm 2022 điều chỉnh việc lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra huyện như thế nào? Theo Điều 23 và Điều 30 Luật Thanh tra năm 2022, Thanh tra huyện không còn tự phê duyệt kế hoạch thanh tra độc lập như trước đây mà có trách nhiệm xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện xem xét trước khi gửi Thanh tra tỉnh. Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ hướng dẫn và tổng hợp dự thảo của Thanh tra huyện vào kế hoạch thanh tra chung của toàn tỉnh để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, nhằm khắc phục triệt để tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra tại cơ sở.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Việt Hà đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về thiết chế Thanh tra huyện, đồng thời phản ánh bức tranh thực tiễn chi tiết tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2019 - 2023. Công trình ghi nhận những kết quả tích cực trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thanh tra kinh tế - xã hội, song cũng chỉ ra những hạn chế về biên chế nhân lực và tính phụ thuộc vào cơ chế điều hành cấp trên. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc hoàn thiện khung thể chế thanh tra hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương trong bối cảnh thi hành Luật Thanh tra năm 2022.