Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái quát chung về công tác thi hành án dân sự 1. Qu ệm, ặ ểm Xét về mặt thuật ngữ, thi hành án dân sự là một cụm từ ghép bao gồm hai vế “thi hành án” và “dân sự”. Nếu như khái niệm “dân sự” đã được định nghĩa rõ nét trong Bộ luật dân sự năm 2005 thì khái niệm “thi hành án” cho đến nay vẫn đang được quan tâm nghiên cứu. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là thực hiện điều đã chính thức quyết định [65, tr.
Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án. Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết các vấn đề trong vụ án kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, hình sự, dân sự, hành chính… Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, hiệu quả, ngoài bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội, công dân đối với phán quyết của Tòa án. Đồng thời, nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị xâm hại. Theo từ điển Luật học thì thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật [55, tr.
Do đó, thi hành án được xem là hoạt động Tư pháp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) tại Điều 1 và Điều 2 đã quy định thi hành án dân sự là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cả cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại. Việc xác định bản chất của THADS vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, có nhiều cách lập luận cũng như tiếp cận khác nhau. Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng: Quan điểm thứ nhất: THADS là một hoạt động tư pháp vì nó gắn liền với các giai đoạn tố tụng.
Thi hành án là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, trên 8 cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế. Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý. Thi hành án nhằm mục đích thực thi các phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu quả trên thực tế, giải quyết các vấn đề thi hành án về phần dân sự và tài sản trong vụ án hình sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính. các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử [63, tr. Quan điểm thứ hai: THADS là một loại hoạt động hành chính. Quan điểm này dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành không quy định cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, vì bản chất, mục đích của thi hành án khác hoàn toàn với tố tụng, không thể gắn nó với hoạt động tố tụng dân sự. Bởi l , bản chất và mục đích của hoạt động tố tụng dân sự là đi tìm sự thật khách quan của các vụ án, vụ việc dân sự để đưa ra các phán quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Để có được các phán quyết đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, các cá nhân tiến hành tố tụng tham gia theo một quy trình tố tụng chặt ch , công khai, minh bạch. Còn hoạt động THADS lại là một quy trình đi ngược lại với quy trình, thủ tục tố tụng. Xuất phát từ một bản án, quyết định của toà án, cơ quan thi hành án dân sự đưa ra một quyết định mang tính hành chính dựa trên một văn bản cá biệt để điều chỉnh hoạt động của cá nhân, đối tượng phải có nghĩa vụ thi hành án và chủ thể được thi hành án. Hoạt động THADS mang tính quản lý hành chính nhà nước rõ nét vì bản chất hoạt động này mang tính chất chấp hành và điều hành.
Tuy nhiên, vẫn còn điểm bất hợp lý là ở chỗ nếu coi THADS là một hoạt động hành chính thì với những trường hợp người được thi hành án không làm đơn yêu cầu thi hành án thì cơ quan THADS không có cơ sở và các phương pháp hành chính như: Mệnh lệnh, quyền uy để đưa ra các biện pháp thi hành án dân sự được. Do đó, yếu tố hành chính không đảm bảo. Quan điểm thứ ba, hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp. Có nghĩa là hoạt động này vừa mang yếu tố của tính hành chính, vừa mang yếu tố của tính tư pháp.
Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà 9 nước, trong đó Tòa án đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn hoàn toàn khác, không thuộc quá trình tố tụng. Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng bởi vì "thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [49, tr. Cùng quan điểm trên PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, do hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, xã hội và pháp lý của nó. Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay cần phải đặt trong vấn đề để xây dựng nhà nước pháp quyền.
Xét về bản chất, hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu, cụ thể: Xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình thi hành án. Tính đặc thù trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án; Đặc thù trong các quan hệ về thủ tục thi hành án. Quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả quan hệ mang tính hành tính- tư pháp và quan hệ tố tụng. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận ra các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp thể hiện đậm nét hơn.
Thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, có thể thấy điểm khác biệt căn bản ở hoạt động thi hành án và hoạt động tố tụng là trong một số lĩnh vực, một số công việc của hoạt động thi hành án, Nhà nước có thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này còn hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không có xã hội hóa. Quan điểm này cho rằng, thi hành án dân sự chỉ là hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, không thuộc quá trình tố tụng nên không phải là hoạt động tư pháp. Trong quá trình thi hành án không chỉ có Toà án mà còn nhiều cơ quan hành chính nhà nước khác có liên quan cùng tham gia tổ chức thi hành án, trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì s bị cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án để đảm bảo thưc hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế.
Nhận xét về ba quan điểm nêu trên cho thấy, cả ba quan điểm đều có những điểm hợp lý. Tuy nhiên, theo tác giả để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề lý luận và thực tiễn cho thấy, quan điểm thứ ba coi thi hành án là hoạt động hành chính – tư 10 pháp s là hợp lý hơn cả, bởi những lý do sau: - Cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Toà án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp. Do đó, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không có hoạt động thi hành án. - Trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án tác động tới người phải thi hành án để họ tự nguyện thi hành, trong trường hợp họ không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án s áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định để buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Qua đó, nhằm giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của họ cũng như những người xung quanh. Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi hành án phải có tính tổ chức, kế hoạch, kiểm tra, đôn đốc… đó là những tính chất cơ bản của hoạt động quản lý. - Thi hành án dân sự và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Vì vậy, nếu bản án, quyết định khi được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, cụ thể, rõ ràng được người dân ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án s dễ dàng, nhanh chóng.
Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án tuyên không khách quan, thiếu công bằng thì s ảnh hưởng rất lớn đến việc thi hành án, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án để thi hành bản án, quyết định đó. - Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết với các giai đoạn tố tụng trước đó.