Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh 1. Khái niệm tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau: - Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung.
Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”. - Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định; - Y học cho rằng trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất cả các chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập. Tuy nhiên, sinh vật đa bào (nhiều bào) có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể của chúng. Các tế bào cá nhân có thể thực hiện chức năng cụ thể và cũng làm việc cùng nhau vì lợi ích của toàn bộ cơ thể.
Các tế bào trở nên phụ thuộc vào nhau. Từ quan niệm của y học cho thấy tổ chức chỉ có ở sinh vật đa bào, các tế bào phụ thuộc vào nhau vì lợi ích của toàn bộ; - Nhân loại học khẳng định từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện. Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại. Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó.
Như vậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụ chung; 9 Ngay trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng có những cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau về “Tổ chức”, cụ thể là: - Theo Chester I. Barnard, thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Như vậy theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổ chức.
- Luật học (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Luật học nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức; - Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó”. Quan niệm về tổ chức theo Khoa học tổ chức và quản lý có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Quản trị công ở chỗ đều xác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong xã hội; vì là tổ chức của con người, có các hoạt động chung do vậy mục tiêu của tổ chức là một trong những điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức; - Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý 10 thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức).
Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức). Điểm mới quan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý nói về phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức. - Trên phương diện ngôn ngữ: Tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích… có thể sử dụng các thuật ngữ: cơ quan, đơn vị, pháp nhân, công ty, hội… thay thế thuật ngữ tổ chức.
Sự đa dạng trên phương diện ngôn ngữ còn thể hiện ở việc thuật ngữ tổ chức được dùng với các chức năng khác nhau như: là danh từ, là động từ, là tính từ (tiếng Anh Organization là danh từ, khác với Organize là động từ, khác với Constitutive là tính từ). - Theo Đại từ điển Tiếng Việt trang 1662, “tổ chức” là “sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung”, “tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì mục tiêu chung” [64]. Theo từ điển Tiếng Việt và thực tế cho thấy trong từng hoàn cảnh cụ thể mà “tổ chức” có thể được hiểu và thực hiện ở nghĩa danh từ “tổ chức” hoặc động từ” tổ chức”, hay nói cách khác tùy vào mỗi công việc, ngành nghề, lĩnh vực… có nhiều định nghĩa khác nhau về “tổ chức”. Tổ chức bao gồm hai nội dung cơ bản là tổ chức cơ cấu và tổ chức quá trình.
Với thực tế như vậy, cần có tư duy biện chứng, kế thừa, không cứng nhắc, máy móc, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu về khái niệm “Tổ chức”. Với cách tư duy, tiếp cận như vậy khi tìm hiểu khái niệm chung về tổ chức cần nằm vững một số nội dung căn bản như: - Tổ chức là của con người trong xã hội gắn với một hình thái kinh tế - xã hội và một kiểu nhà nước; 11 - Con người trong tổ chức gắn kết với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung; - Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định; - Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật. Nếu nhất thiết phải đưa ra một định nghĩa về tổ chức thì đó ‘’là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung’’. Từ các khái niệm “tổ chức”, trên đây, tác giả đưa ra khái niệm tổ chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là: “Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là việc sắp xếp, bố trí các bộ phận cấu thành cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nhằm bảo đảm cho mỗi bộ phận và cả hệ thống tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh đạt được hiệu suất tổng thể, phối hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn được giao”.
Khái niệm hoạt động của cơ quan thi hành án cấp tinh Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét. - Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng giữa chủ thể với khách thể. Trong quan hệ đó chủ thể là con người khách thể là hiện thực khách quan. ở góc độ này hoạt động là một quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể- khách thể”.
- Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần của con người. - Dưới góc độ tâm lý học, hoạt động là mối tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới 12 và phía con người. Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau thống nhất với nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, trang 827 “hoạt động” là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định; là vận động, vận hành để thực hiện các chức năng nào hoặc tác động nào đó” [64].
Trong đời sống hằng ngày, “hoạt động” thường được hiểu là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm, khi nói đến “hoạt động” thì bao gồm hoạt động của một cá nhân hoặc hoạt động của một tổ chức để tạo ra một sản phẩm, một kết quả nhất định, hay nói cách khác “hoạt động” là vận động, cử động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt mục đích nào đó, hoạt động là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể hoặc tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục đích chung trong lĩnh vực nhất định. Từ các khái niệm “hoạt động” trên đây, dưới góc độ xem xét hoạt động của một tổ chức, tác giả đưa ra khái niệm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là: “Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là duy trì và phát huy những việc làm của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh để hoàn thành thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định pháp luật”. Đặc điểm tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh 1. Tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh gắn liền với hoạt động tố tụng Tư pháp Thi hành án dân sự là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hay nói cách khác là quá trình hiện thực hóa trên thực tế các Quyết định, Bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.