Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Mạnh Thắng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Bích Thọ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9.07, bảo vệ năm 2022).
Tên đề tài: Tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Mạnh Thắng
Người hướng dẫn: PGS. Lê Thị Bích Thọ
Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế (Mã số: 9.07)
Năm hoàn thành: 2022
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, số lượng và tính chất của các hợp đồng, giao dịch dân sự, kinh tế ngày càng gia tăng và phức tạp. Hoạt động công chứng đóng vai trò cung cấp chứng cứ có giá trị xác thực cao, tạo cơ chế phòng ngừa rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, đồng thời bổ trợ cho hoạt động tư pháp và quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, thể chế công chứng tại Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập mang tính cấu trúc:
- Sự song song tồn tại giữa hai loại hình tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) có cơ chế tổ chức, vận hành và tài chính khác biệt: Phòng công chứng (PCC - đơn vị sự nghiệp công lập) và Văn phòng công chứng (VPCC - tổ chức tư nhân hoạt động theo mô hình công ty hợp danh).
- Tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa hai loại hình TCHNCC với cơ chế hạch toán tài chính khác nhau.
- Ranh giới giữa hoạt động công chứng (chứng nhận nội dung) và hoạt động chứng thực (chứng nhận hình thức của cơ quan hành chính) chưa được phân định rõ ràng về mặt bản chất, gây pha trộn thể thức và thiếu thống nhất về giá trị pháp lý.
- Thiếu vắng các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh tổ chức và hoạt động của TCHNCC, cũng như chưa xác lập cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho công chứng số và công chứng trực tuyến.
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống từ giác độ Luật Kinh tế về mô hình TCHNCC với tư cách là tổ chức cung ứng dịch vụ công thiết yếu vận hành theo quy luật thị trường dịch vụ thương mại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn tổ chức, hoạt động của TCHNCC tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan, xác định cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận nghiên cứu.
- Xây dựng và hệ thống hóa lý luận pháp luật về tổ chức, hoạt động của TCHNCC; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế thuộc hệ thống công chứng Latinh để rút ra giá trị tham khảo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động của các TCHNCC tại Việt Nam kể từ khi Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực, chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về TCHNCC ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về tổ chức và hoạt động của TCHNCC; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực công chứng; các mô hình và kinh nghiệm pháp luật quốc tế về công chứng.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào loại hình VPCC (tổ chức tư nhân được thành lập theo mô hình công ty hợp danh được Nhà nước ủy quyền cung cấp dịch vụ công) trong tương quan so sánh với PCC, không nghiên cứu sâu quy chế nội bộ của PCC với tư cách đơn vị sự nghiệp công lập.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước, giới hạn dữ liệu và thực tiễn pháp lý từ thời điểm Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2015) đến năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tiến hành rà soát, phân nhóm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai trục nội dung chính:
Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về công chứng và nghề công chứng
- Tuấn Đạo Thanh (2008): Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay". Tác giả điểm lại nguồn gốc nghề công chứng từ thời Ai Cập cổ đại (các tu sĩ Scribae), La Mã cổ đại (Notarius), sự du nhập sang Pháp (1270), Anh (trước 1279), Mỹ (1650) và Nhật Bản (hơn 110 năm); đồng thời phân tích sự khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung (Latinh - Civil Law) và công chứng hình thức (Anglo-Saxon - Common Law).
- Võ Khánh Vinh (2003): Giáo trình các cơ quan bảo vệ pháp luật, khẳng định công chứng là nghề chuyên nghiệp hình thành gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, phân định hai mô hình chính: mô hình công chứng tự do và mô hình công chứng nhà nước (Collectiviste).
- Trần Văn Hạnh (2016): Tổng quan về nghề công chứng, ghi nhận hoạt động công chứng thời Pháp thuộc tại Việt Nam với sự xuất hiện của Phòng Chưởng khế theo mô hình Cộng hòa Pháp.
- Hoàng Mạnh Thắng (2008): Điều chỉnh pháp lý hoạt động công chứng tại Văn phòng công chứng dưới giác độ pháp luật doanh nghiệp, khảo cứu chế định chưởng khế tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 thuộc quản hạt của Tòa sơ thẩm/Tòa hòa giải rộng quyền trực thuộc Bộ Tư pháp.
- Nguyễn Ngọc Hiến (1996): Những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, phản ánh quan điểm giai đoạn đầu đổi mới: "Công chứng của ta là công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là cơ quan nhà nước, CCV là công chức nhà nước".
Nhóm công trình nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của TCHNCC
- Dương Khánh (2002): Luận án tiến sĩ "Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay", nghiên cứu mô hình PCC với tư cách đơn vị sự nghiệp nhà nước.
- Nguyễn Văn Toàn (2004): Luận văn thạc sĩ tại Đại học Jean Moulin Lyon 3 (Pháp) "Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hướng theo mô hình công chứng Latinh", nghiên cứu giai đoạn chuyển giao từ công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do.
- Lê Thị Phương Hoa (2005): Công chứng và xã hội hóa công chứng ở Việt Nam, chỉ rõ mô hình công chứng nhà nước với cơ chế bao cấp chỉ phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến sự thiếu hụt trách nhiệm cá nhân của CCV.
- Nguyễn Văn Mích (2020): Luận án tiến sĩ "Hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng theo pháp luật Việt Nam", phân tích các dạng hình thức pháp lý của VPCC (doanh nghiệp một chủ, công ty đối nhân, công ty đối vốn) và việc chuyển đổi sang mô hình công ty hợp danh theo Luật Công chứng năm 2014.
- Leslie G.A (2006): The Role of the Notary in secure Electronic Commerce, nghiên cứu về công chứng điện tử, chữ ký điện tử và sự thích ứng của các nguyên tắc công chứng truyền thống trên môi trường số.
- Báo cáo của Bộ Tư pháp (2013, 2022): Tổng thuật pháp luật công chứng của các quốc gia theo hệ thống Latinh (Pháp, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Ba Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các công trình trước đã đề cập đến từng khía cạnh của công chứng, nhưng chưa có công trình nào đánh giá toàn diện mô hình VPCC là "tổ chức tư" song hành cùng PCC là "tổ chức công" trong cùng một chế định pháp luật dưới góc độ Luật Kinh tế. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng nguyên tắc tổ chức, xác định bản chất kinh tế - dịch vụ của VPCC, phân định hoạt động hành nghề của CCV với hoạt động hỗ trợ của TCHNCC, và đề xuất lộ trình công chứng số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết ứng dụng
Luận án xây dựng cơ sở lập luận dựa trên bốn lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết kinh tế thị trường: Hoạt động của các TCHNCC phải tuân thủ các quy luật khách quan của thị trường (cung - cầu, cạnh tranh, giá cả) có sự quản lý và định hướng của Nhà nước, bảo đảm tính tự nguyện và tự do hợp đồng của các chủ thể.
- Lý thuyết về dịch vụ công và dịch vụ thương mại: Phân định bản chất giữa phí công chứng nộp ngân sách tại PCC (theo pháp luật về phí, lệ phí) và giá dịch vụ công chứng/thù lao tại VPCC (theo pháp luật về giá và thỏa thuận thương mại), coi dịch vụ công chứng là dịch vụ công thiết yếu được xã hội hóa.
- Lý thuyết xã hội học pháp luật: Đánh giá hiệu lực thực tế của các quy phạm pháp luật công chứng trong đời sống xã hội, sự tương tác giữa quy định pháp luật thực định và hành vi ứng xử của CCV, tổ chức hành nghề và người yêu cầu công chứng.
- Lý thuyết luật học so sánh: Phân tích, đối chiếu mô hình tổ chức, thể thức công chứng và quy chế CCV của Việt Nam với các chuẩn mực của Liên minh Công chứng Quốc tế (UINL) và pháp luật các nước (Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Luận án đặt ra ba cặp câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Về mặt lý luận, nghề công chứng, hoạt động công chứng và TCHNCC được hiểu như thế nào; nội dung điều chỉnh pháp luật gồm những gì?
- Giả thuyết 1: Cần phân định rõ ràng giữa hoạt động hành nghề công chứng của CCV và hoạt động quản trị, hỗ trợ của TCHNCC; nhận diện đặc thù của mô hình hỗn hợp (nhà nước và tự do) tại Việt Nam.
- Câu hỏi 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về tổ chức, hoạt động của TCHNCC ở Việt Nam bộc lộ những hạn chế, bất cập gì?
- Giả thuyết 2: Quy định pháp luật hiện hành thiếu đồng bộ, có sự bất bình đẳng tài chính giữa PCC và VPCC, chưa phân định rạch ròi giữa công chứng và chứng thực, dẫn đến rủi ro pháp lý và cạnh tranh không lành mạnh.
- Câu hỏi 3: Cần những định hướng và giải pháp nào để hoàn thiện thể chế pháp lý bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống TCHNCC?
- Giả thuyết 3: Hoàn thiện Luật Công chứng theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, thống nhất thể thức công chứng nội dung, chuẩn hóa tiêu chuẩn CCV, tăng cường tự quản nghề nghiệp và thiết lập nền tảng công chứng số.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Chương 1: Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích tài liệu thứ cấp để tổng quan tình hình nghiên cứu.
- Chương 2: Phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp lịch sử lập pháp, phương pháp diễn dịch - quy nạp và phương pháp luật học so sánh để xây dựng khung lý luận.
- Chương 3: Phương pháp thống kê dữ liệu, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật và tổng hợp thực trạng hoạt động của các TCHNCC.
- Chương 4: Phương pháp phân tích chính sách, quy nạp và so sánh nhằm đề xuất giải pháp lập pháp và tổ chức thực thi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 tổng kết các dòng nghiên cứu về lịch sử công chứng, các hệ thống công chứng thế giới (Latinh và Anglo-Saxon), cũng như quá trình chuyển đổi thể chế công chứng tại Việt Nam.
Tác giả xác định các nội dung kế thừa từ các công trình đi trước, đồng thời chỉ ra yêu cầu phải thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp của Đảng (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020) về việc phân định phạm vi giữa công chứng và chứng thực, xác định giá trị của văn bản công chứng (VBCC) và từng bước xã hội hóa dịch vụ công chứng.
Các trường phái công chứng trên thế giới (theo Chương 1 & Chương 2):
1. Hệ thống công chứng Latinh (Civil Law): Công chứng nội dung; CCV là "thẩm phán hợp đồng"; VBCC có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành.
2. Hệ thống công chứng Anglo-Saxon (Common Law): Công chứng hình thức; thủ tục linh hoạt; Nhà nước không can thiệp sâu vào nội dung và mức phí.
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng
Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, nguyên tắc và phân tích kinh nghiệm quốc tế:
-
Khái niệm và đặc điểm:
- Công chứng: Hoạt động của CCV chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung giao dịch bằng văn bản theo luật định hoặc theo yêu cầu tự nguyện.
- Công chứng số: Hoạt động công chứng trên môi trường điện tử do CCV thực hiện bằng công cụ số, chữ ký số, tạo lập VBCC điện tử lưu trữ tại cơ sở dữ liệu tập trung.
- Tổ chức hành nghề công chứng: Tổ chức do cá nhân hoặc Nhà nước thành lập, đầu tư kinh phí để hỗ trợ và duy trì việc hành nghề thông suốt, liên tục của CCV.
-
So sánh thể thức công chứng:
- Công chứng nội dung (Latinh): CCV kiểm tra tính xác thực, năng lực chủ thể, nội dung thỏa thuận; đóng vai trò "công lý phòng ngừa" (preventive justice). VBCC có giá trị chứng cứ tuyệt đối và hiệu lực thi hành trực tiếp.
- Công chứng hình thức (Anglo-Saxon): CCV chỉ xác nhận chữ ký, danh tính, địa điểm mà không bảo đảm tính hợp pháp của nội dung thỏa thuận.
-
Mô hình tổ chức và quy chế công chứng viên tại một số quốc gia:
| Quốc gia |
Độ tuổi bổ nhiệm / Hành nghề |
Hình thức tổ chức TCHNCC |
Địa hạt hành nghề & Quy định đặc thù |
| Cộng hòa Pháp |
Theo chuẩn đào tạo chuyên môn |
Văn phòng cá nhân, Hiệp hội nghề nghiệp dân sự, công ty cổ phần; thuê tối đa 01 CCV hưởng lương |
Địa hạt gắn liền nơi cư trú; lưu trữ VBCC nghiêm ngặt |
| CHLB Đức |
Từ đủ 35 tuổi đến tối đa 70 tuổi |
Mỗi CCV một văn phòng riêng; liên kết văn phòng phải do Chính quyền Bang cấp phép |
Điều 10 Luật BNotO quy định nơi ở chính thức gắn với trụ sở văn phòng |
| Tây Ban Nha |
Bổ nhiệm trung bình từ 27–28 tuổi, nghỉ hưu ở tuổi 70 |
Cho phép văn phòng một CCV hoặc văn phòng hợp danh chung |
Cấm hoàn toàn việc quảng cáo hành nghề; hồ sơ lưu trữ là tài liệu mật |
| Ba Lan |
Từ đủ 26 tuổi trở lên |
TCHNCC theo quy định pháp luật công chứng |
Vắng mặt từ 03 ngày phải chỉ định CCV dự bị thay thế |
| Trung Quốc |
Từ 25 đến dưới 65 tuổi |
TCHNCC thuộc cơ quan tư pháp địa phương; yêu cầu tối thiểu 02 CCV |
Thuộc cơ quan tư pháp địa phương (Điều 9 Luật Công chứng Trung Quốc) |
| Nhật Bản |
Nghỉ hưu ở tuổi 70 (thường bổ nhiệm lúc 58–62 tuổi) |
Tác nghiệp theo thẩm quyền chứng nhận |
Chịu ảnh hưởng của hệ thống Pháp và Đức |
- Bản chất pháp lý của VPCC: Luận án khẳng định VPCC hoạt động theo hình thức công ty hợp danh không có thành viên góp vốn. Trách nhiệm của các thành viên hợp danh mang tính chất đối nhân vô hạn và liên đới đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động cung cấp dịch vụ công chứng.
Tương quan giữa CCV và TCHNCC:
- Công chứng viên (CCV): Hạt nhân chuyên môn; trực tiếp thực hiện quy trình chứng nhận, chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân về tính xác thực của VBCC.
- Tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC): Thiết chế tổ chức - hậu cần; cung cấp trụ sở, nhân sự phụ trợ, quản trị tài chính, bảo hiểm nghề nghiệp và đại diện giải quyết tranh chấp.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và số liệu thực tế áp dụng từ ngày 01/01/2015:
- Cơ cấu tổ chức TCHNCC tại Việt Nam (Tính đến hết năm 2021):
| Loại hình TCHNCC |
Bản chất pháp lý |
Số lượng đơn vị |
Tỷ lệ tổ chức (%) |
Số lượng CCV |
| Phòng công chứng (PCC) |
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp |
120 |
10,4% |
383 CCV |
| Văn phòng công chứng (VPCC) |
Doanh nghiệp tư nhân (Công ty hợp danh) |
Chiếm đa số |
89,6% |
1.399 CCV |
| Tổng cộng |
Hệ thống TCHNCC toàn quốc |
~1.150+ |
100% |
1.782 CCV |
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp được trích dẫn tại trang 38-39 của luận án)
- Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn:
- Bất cập về mô hình song hành: PCC được Nhà nước bảo đảm ngân sách và cơ sở vật chất, trong khi VPCC tự chủ hoàn toàn tài chính nhưng phải chịu thuế và chi phí vận hành như doanh nghiệp. Sự cạnh tranh giữa hai loại hình tạo ra sự thiếu ổn định trong phát triển hệ thống.
- Sự pha trộn giữa công chứng và chứng thực: Tồn tại tình trạng công chứng hình thức (chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng tại UBND cấp xã/huyện) song song với công chứng nội dung tại TCHNCC, làm giảm mức độ an toàn pháp lý của các giao dịch dân sự, bất động sản.
- Hạn chế về nhân sự CCV: Tỷ lệ CCV được bổ nhiệm qua đào tạo nghề chuyên sâu còn hạn chế so với nhóm được miễn đào tạo, dẫn đến sự không đồng đều về kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp.
- Chậm trễ trong chuyển đổi số: Cơ sở dữ liệu công chứng chưa được kết nối liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp và tài sản.
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
-
Định hướng chiến lược:
- Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần cải cách tư pháp.
- Hoàn thiện mô hình công chứng tự do theo trường phái công chứng Latinh, loại bỏ dần mô hình công chứng nhà nước bao cấp.
- Xây dựng hệ thống TCHNCC phân bổ hợp lý theo quy hoạch mạng lưới dân cư, tránh tình trạng tập trung quá mức tại các đô thị lớn.
-
Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý:
- Sửa đổi toàn diện Luật Công chứng năm 2014: quy định rõ quyền, nghĩa vụ của VPCC với tư cách tổ chức kinh doanh dịch vụ công đặc thù; bổ sung quy chế chuyển nhượng, giải thể, thừa kế quyền điều hành VPCC.
- Phân định rõ phạm vi: Chuyển toàn bộ thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch từ UBND các cấp sang các TCHNCC, chấm dứt tình trạng chứng thực hình thức đối với các giao dịch tài sản phức tạp.
- Chuẩn hóa tiêu chuẩn CCV: Bắt buộc đào tạo nghề công chứng đối với mọi đối tượng trước khi bổ nhiệm; áp dụng cơ chế phân hạng và thăng hạng CCV; quy định giới hạn độ tuổi hành nghề tối đa (tương tự thông lệ quốc tế là 65–70 tuổi).
- Thiết lập cơ chế tài chính và bảo hiểm rủi ro: Bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và thành lập Quỹ bồi thường rủi ro chung của Hiệp hội công chứng viên.
- Xây dựng hành lang pháp lý cho công chứng số: Ban hành quy chuẩn về VBCC điện tử, chữ ký số của CCV, quy trình công chứng trực tuyến và kết nối liên thông dữ liệu quốc gia về tài sản, thuế, đất đai.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các điểm đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về lý luận: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc phân định ranh giới giữa hoạt động hành nghề của CCV (chức năng công quyền được ủy nhiệm) và hoạt động quản trị của TCHNCC (chức năng hỗ trợ, dịch vụ). Luận giải bản chất kinh tế - pháp lý của VPCC là tổ chức cung ứng dịch vụ công thiết yếu hoạt động theo quy luật thương mại dịch vụ.
- Đóng góp về thực tiễn: Hệ thống hóa thực trạng áp dụng Luật Công chứng năm 2014; chỉ rõ xung đột lợi ích và bất bình đẳng giữa mô hình PCC và VPCC; cung cấp dữ liệu so sánh lập pháp với hệ thống công chứng của các nước thành viên UINL.
- Đóng góp về giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi Luật Công chứng năm 2014, bao gồm cơ chế chuyển giao toàn diện giao dịch từ chứng thực sang công chứng, chuẩn hóa đào tạo CCV, thiết lập quỹ bảo hiểm rủi ro và khung pháp lý cho công chứng điện tử tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trọng tâm vào mô hình VPCC (công ty hợp danh) và mối quan hệ tương tác với hệ thống pháp luật kinh tế, không đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính nội bộ, biên chế và quy chế tự chủ chi tiết của Phòng công chứng với tư cách là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu quy trình kỹ thuật và chuẩn bảo mật chi tiết cho hoạt động công chứng số, công chứng trực tuyến xuyên biên giới.
- Nghiên cứu sâu về cơ chế chuyển đổi toàn bộ các Phòng công chứng còn lại sang mô hình tự chủ hoàn toàn hoặc chuyển nhượng sang Văn phòng công chứng tư nhân.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho các đối tượng:
- Cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành thuộc Bộ Tư pháp.
- Tổ chức hành nghề công chứng và Công chứng viên: Hỗ trợ nhận diện rõ mô hình quản trị doanh nghiệp hợp danh, quản lý rủi ro nghề nghiệp, duy trì bảo hiểm trách nhiệm và phân định trách nhiệm pháp lý cá nhân.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Khoa học Tư pháp tại các trường đại học, học viện tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định sự khác biệt giữa trường phái công chứng Latinh và Anglo-Saxon như thế nào?
Trường phái Latinh (Civil Law) áp dụng thể thức công chứng nội dung, coi CCV là "thẩm phán hợp đồng" có trách nhiệm kiểm tra tính xác thực, tính hợp pháp của cả nội dung thỏa thuận; văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành trực tiếp. Trường phái Anglo-Saxon (Common Law) áp dụng công chứng hình thức, CCV chỉ chứng nhận danh tính và chữ ký mà không chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận, thủ tục đơn giản nhưng giá trị an toàn pháp lý thấp hơn.
2. Tỷ lệ cơ cấu giữa Phòng công chứng (PCC) và Văn phòng công chứng (VPCC) tại Việt Nam tính đến hết năm 2021 là bao nhiêu?
Theo số liệu được tổng kết trong luận án, tính đến hết năm 2021:
- Phòng công chứng (mô hình nhà nước) chiếm 10,4% tổng số TCHNCC (với 120 PCC và 383 CCV).
- Văn phòng công chứng (mô hình tự do) chiếm 89,6% tổng số TCHNCC (với 1.399 CCV).
3. Bản chất pháp lý của Văn phòng công chứng (VPCC) theo quy định hiện hành là gì?
VPCC được tổ chức dưới hình thức công ty hợp danh không có thành viên góp vốn. Các CCV hợp danh là chủ sở hữu, cùng quản trị và chịu trách nhiệm vô hạn, liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động và nghĩa vụ tài chính của Văn phòng.
4. Luận án đưa ra định nghĩa như thế nào về "Công chứng số"?
Công chứng số là hoạt động công chứng được thực hiện trên môi trường điện tử, do CCV chứng nhận thông qua công cụ số, chữ ký số, tạo ra văn bản công chứng điện tử phục vụ cho các giao dịch điện tử của cá nhân, tổ chức và được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu tập trung theo trình tự, thủ tục do luật định.
5. Kinh nghiệm quốc tế về độ tuổi hành nghề của Công chứng viên được luận án đề cập ra sao?
Luận án ghi nhận: CHLB Đức quy định độ tuổi bổ nhiệm từ 35 và nghỉ hưu ở tuổi 70; Ba Lan yêu cầu tối thiểu 26 tuổi; Trung Quốc quy định từ 25 đến dưới 65 tuổi; Tây Ban Nha bổ nhiệm trung bình ở tuổi 27–28 và nghỉ hưu ở tuổi 70; Nhật Bản thường bổ nhiệm CCV ở độ tuổi 58–62 và nghỉ hưu ở tuổi 70.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Mạnh Thắng là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về tổ chức và hoạt động của các TCHNCC tại Việt Nam dưới lăng kính của Luật Kinh tế và kinh nghiệm quốc tế theo hệ thống công chứng Latinh. Công trình đã làm rõ tính tất yếu của việc chuyển đổi mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do, phân định ranh giới giữa hoạt động hành nghề của CCV và hoạt động quản trị của TCHNCC. Các phát hiện và đề xuất sửa đổi Luật Công chứng trong luận án đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp, xã hội hóa dịch vụ công và chuyển đổi số hoạt động công chứng tại Việt Nam.