PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ mở cửa và Đổi mới của đất nước, đặc biệt là sau khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại của Việt Nam nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng đã có những bước phát triển nhanh và toàn diện, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời ghi dấu ấn quan trọng của tiến trình hội nhập với thế giới. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, kinh tế tỉnh Lạng Sơn cũng đạt được tốc độ tăng trưởng khá, bình quân trên 8%/năm – luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước. Với những thành tựu chung của nền kinh tế, thương mại trên địa bàn Lạng Sơn cũng đã phát triển và tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu Lạng Sơn có mức tăng trưởng khá cao và ổn định, bình quân tăng trên 22%/năm, không chỉ đóng góp chung vào tăng trưởng và phát triển xuất nhập khẩu của cả nước, mà còn góp phần đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trên địa bàn, nâng cao chất lượng đời sống người dân Lạng Sơn.
Với vị thế địa - kinh tế, địa - chiến lược, tỉnh Lạng Sơn có đường biên giới với Trung Quốc đã đem lại nhiều lợi thế và cơ hội cũng như thách thức đối với xuất nhập khẩu của Tỉnh, khi liên tục nhiều năm liền Trung Quốc là đối tác thương mại lớn và quan trọng của Việt Nam, hiện Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất với kim ngạch nhập khẩu đứng thứ nhất và kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 trong số các đối tác thương mại của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng dần có được vị trí trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, đánh dấu bằng việc năm 2016, Việt Nam đã vượt qua Malaysia để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực ASEAN. Thực tế cho thấy, xuất nhập khẩu trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn đang ngày càng được tăng trưởng cả về đối tác, thị trường, quy mô và chất lượng, đặc biệt là 2 với nước láng giềng Trung Quốc. Với 2 cửa khẩu quốc tế (Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và Cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính (Cửa khẩu chính Chi Ma) và 09 cửa khẩu phụ, lối mở, các cặp chợ biên giới; là điểm đầu của Việt Nam trong Hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (Việt Nam), đồng thời cũng là “cầu nối” quan trọng nối các tỉnh phía Nam Trung Quốc ra các cảng biển với Việt Nam và các nước trên thế giới, cũng như với các nước ASEAN và cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) trên hệ thống đường giao thông đang ngày càng được cải thiện và thuận lợi, đây là những lợi thế quan trọng để phát triển thương mại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng của Tỉnh.
Tuy nhiên, dường như những lợi thế và tiềm năng đó vẫn chưa được phát huy đầy đủ và thiếu các điều kiện để khai thác nhằm đem lại những lợi ích thiết thực hơn trong thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất nhập khẩu hàng hóa của Tỉnh. Trong những năm tới, trước những thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (4.0), sự chủ động hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới, cũng như sự phát triển và tăng trưởng nhanh của sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trên phạm vi cả nước và trên địa bàn Tỉnh, cũng như sự cải cách, hoàn thiện trong quản lý nhà nước và môi trường kinh doanh, sẽ tạo ra các điều kiện và thời cơ mới cho hoạt động xuất nhập khẩu của Tỉnh phát triển hiệu quả và bền vững. Tác động đa chiều, đa cấp độ của những nhân tố khách quan và chủ quan trên, đòi hỏi cần có chiến lược, phương thức và kế hoạch đầu tư, phát triển xuất nhập khẩu trên địa bàn Tỉnh một cách tương xứng. Một mặt, khai thác lợi ích từ tiềm năng, lợi thế từ các yếu tố và điều kiện trên địa bàn Tỉnh đối với hoạt động xuất nhập khẩu, mặt khác, phải tận dụng được những cơ hội từ những yếu tố phát triển mới để hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của sản xuất và đời sống xã hội, từ đó nâng cao hơn nữa vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tỉnh, mà còn đối với sự phát triển của vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước.
Đồng thời, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và phát triển bền vững hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như tham gia vào chuỗi giá trị và chuỗi cung 3 ứng hàng hóa của khu vực và toàn cầu ở những nấc thang giá trị cao. Trước những yêu cầu mới trong phát triển thương mại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng của Tỉnh và cả nước, nghiên cứu xây dựng đề tài “Tổ chức thực thi chính sách phát triển thương mại biên giới của chính quyền tỉnh Lạng Sơn” là hết sức cần thiết, nhằm phát triển bền vững hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phù hợp xu thế phát triển hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, định hướng phát triển ngành thương mại của Tỉnh Lạng Sơn. Tổng quan nghiên cứu Thời gian vừa qua, quản lý Nhà nước về thương mại đã có công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Đa số các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về thương mại, xuất nhập khẩu, đưa ra các đề xuất, kiến nghị và giải pháp về đề tài này.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu ở mỗi thời điểm khác nhau và tại các đơn vị khác nhau. cụ thể: - Luận án Tiến sĩ "Giải pháp phát triển Thương mại của tỉnh Lào Cai trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Nguyễn Trường Giang - Sở Công Thương tỉnh Lào Cai (năm 2013) tại Viện Nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương. Luận án làm rõ khái niệm về phát triển thương mại của một tỉnh biên giới, xác định nội dung phát triển thương mại theo nghĩa rộng bao gồm: phát triển thương mại nội địa, phát triển xuất nhập khẩu và phát triển các dịch vụ thương mại và chỉ ra một số điểm đặc thù và sự khác biệt cơ bản trong phát triển thương mại của một tỉnh có biên giới với tỉnh không có biên giới: lợi thế gần kề thị trường nước ngoài, hàng hóa xuất nhập khẩu được giao ngay tại biên giới, được áp dụng các quy định ngoại lệ của WTO về thương mại qua biên giới. Luận án đã xác định 3 tiêu chí để đánh giá sự phát triển thương mại của một tỉnh biên giới trong bối cảnh HNKTQT, gồm: (i) Quy mô và tốc độ tăng trưởng (như tổng mức bán lẻ hàng hóa, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh,.
Qua đó, rút ra thành tựu đạt được và những hạn chết còn tồn tại, đề xuất các giải pháp có tính đột phá là: Xây dựng và nâng cao hiệu lực thực thi Quy hoạch phát triển thương mại của Tỉnh và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thương mại biên giới; đẩy mạnh đầu tư và khai thác hiệu quả Khu Kinh tế cửa khẩu Lào Cai; thúc đẩy và nâng cao hiệu quả các liên kết thương mại và thị trường giữa Lào Cai với Vân Nam (Trung Quốc) và các địa phương trong nước. - Luận án “Phát triển TMBG của Mexico và Canada và một số hàm ý chính sách với Việt Nam” của tác giả Lê Lan Hương (năm 2017) tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu: i) Hệ thống hoá được cơ sở lý thuyết về TMBG. Nêu được tổng quan tình hình nghiên cứu của luận văn, tìm ra được khoảng trống nghiên cứu.
Bổ sung, và làm phong phú thêm lý luận, thực tiễn về phát triển TMBG, góp phần giải quyết một số vấn đề có tính thời sự, cấp thiết như hiện nay là làm thế nào để phát huy tác động tích cực của phát triển TMBG trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; ii) Phân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động TMBG của Mexico, Canada trong quan hệ với các đối tác lớn là Mỹ. Phân tích và rút ra các bài học thực tiễn đối với Việt Nam; iii) Nghiên cứu thực trạng phát triển TMBG của Việt Nam hiện nay, tìm ra các hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển TMBG gắn với mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh biên giới quốc gia. Luận văn “Phát triển thương mại tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Thanh (năm 2015)trường Đại học Thái Nguyên. Luận văn đã góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thương mại.
Phân tích, đánh giá thực trạng thương mại tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 - 2012. Xác định quan điểm, mục tiêu đề ra hướng và những giải pháp phát triển thương mại tỉnh Phú Thọ đến năm 2020. - Đề tài khoa học “ Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh 5 xuất khẩu tiểu ngạch hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc ” (năm 2010) của Vụ Thương mại miền núi - Bộ Công Thương. Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận về xuất khẩu tiểu ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc, đồng thời đánh giá thực trạng xuất khẩu tiểu ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong giai đoạn 2005-2009, từ đó rút ra những thành tựu đạt được và chỉ ra nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại.
Ngoài ra, đề tài còn dự báo triển vọng phát triển trong thời gian tới để đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Nhìn chung, các luận văn trên đã nhấn mạnh được tầm quan trọng của phát triển thương mại và phát triển thương mại biên giới, đồng thờiđưa ra được nhiều giải pháp phát triển thương mại và những bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước.